MÔ H̀NH NHÀ Ở CHO NÔNG DÂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

KTS Nguyễn Trần Đạt  

1.       DẨN NHẬP.

Tôi xin phép tŕnh bày mối quan tâm của dân chúng DBSCL về những vấn đề có liên quan đến vùng này, nhất là trong lănh vực quy hoạch, kiến trúc, xây dựng và phát triển là phạm vi chuyên môn mà tôi thích nghiên cứu. Hôm nay, trong Hội Thảo về đề tài "Sông Mékong và sự phát triển Việt Nam, tôi xin mạn phép tŕnh bày vài ư kiến về quy hoạch, kiến trúc, xây dựng và phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài việc tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc căn bản về quy hoạch, kiến trúc, xây dựng và phát triển th́ chúng ta c̣n cần phải:
a. nghiên cứu kỹ (study/research) hoàn cảnh/ điều kiện thiên nhiên (site analysis như địa h́nh, thổ nhưỡng- địa chất, sông rạch, khí hậu, v.v…), kinh tế, chính trị, xă hội (phong tục tập quán, đời sống,  sinh hoạt thường nhật của cư dân điạ phương, v.v…).
b. quy  hoạch làm sao cho khu vực được gọn (trật tự) + sạch (vệ sinh) + đẹp (thẩm mỹ) + thuận lợi để phát triển trong tương lai.

2.  MÔ H̀NH NHÀ Ở CHO NÔNG DÂN VÙNG ĐBSCL
Trong dịp về thăm gia đ́nh năm 1994, tôi có nghe nói về đề tài xây dựng mô h́nh nhà ở cho nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long. Đề tài này đă được thảo luận và triển khai trên 3 năm nhưng vẫn chưa có được một mô h́nh nào khả dĩ tạm coi là "vừa ư' nhất. Có một bác làm thầu xây dựng đề nghị "các anh ở nước ngoài thử có ư kiến về việc này xem sao." Thú thật, cá nhân tôi chưa dám "đụng" đến đề tài này bởi 2 lẽ:
a. Thứ nhất, phải thật sự hiểu rơ về con người và hoàn cảnh ở địa phương này, nhất là nếp sống, phong tục tập quán, những nhu cầu thường ngày, những điểm đặc thù từ hoàn cảnh tự nhiên và xă hội. Mặc dù tôi sinh ra ở miền Tây Nam Việt nhưng tôi thật t́nh biết rất mù mờ về miền đất này bởi từ lúc mới một tuổi đă theo cha mẹ lên sống ở Saigon. Tất cả h́nh ảnh và hiểu biết về miền đất quê hương này chỉ có từ những chuyến đi chơi ngắn ngày, qua sách báo hay lời kể của cha mẹ, thân quyến, bạn bè.
b. Thứ hai, Việt Nam đă có những kiến trúc sư mà "tên tuổi" đă lừng lẫy với những giải thưởng kiến trúc quốc tế nổi tiếng, ví dụ như ông Thụ, như anh Tất, anh Mười, anh Lân.

Kinh nghiệm xử lư các vấn đề thuộc dạng này không thể không có ư kiến từ các tên tuổi đó. Tôi chỉ thắc mắc v́ không hiểu tại sao các nhà kiến trúc và xây dựng bên nhà không "thích thú" với đề tài này(?). Từ ngày ra đề tài này đến nay, hầu như chỉ lác đác vài mô h́nh được thực hiện một cách "nghèo nàn." Vài mẫu nhà lắp ráp theo kiểu nhà tiền chế (tựa như mobile homes) với vật liệu chính là "tôn lá" và "tấm lợp fibro-cement", có căn như nhà sàn, có căn như trailer, từ màu sắc đến kiểu dáng thiết kế thật khó được nông dân ưa chuộng. Có vài Việt kiều (từ Canada, Đức, Uùc lẫn Mỹ) cũng tŕnh bày một số kiểu dáng mới mẻ với vật liệu ngoại nhập, khá đủ tiện nghi nhưng giá thành khá cao và cũng chưa phù hợp sở thích cũng như nhu cầu của nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long. Tôi không biết có phải v́ ngoài 2 lư do như tôi vừa nêu trên, c̣n có lư do nào khác, chẳng hạn như đối tượng (nông dân) không phải là "mối bở" (vừa không có nhiều tiền, lại khó tính), hay v́ bế tắc trong việc giải quyết cùng lúc 5 mối (nhu cầu + sở thích + rẻ + đẹp + bền). Cũng có thể v́ nhiều lư do "thầm kín" khác mà không ai tiện nói ra. Chỉ biết một điều: đề tài này đă không thu hút giới kiến trúc và xây dựng trong nước, nhất là giới trẻ. Tôi có đề nghị với KTS. Nguyễn Quang Nhạc tổ chức một cuộc thi có thưởng dành cho sinh viên ngành kiến trúc và xây dựng. Nếu trúng giải, ngoài phần thưởng & danh dự, mô h́nh sẽ trở thành kiểu mẫu được ưa chuộng nhất và sẽ nhanh chóng được xây dựng ồ ạt khắp vùng châu thổ sông Cửu Long trong chương tŕnh quy hoạch và phát triển toàn vùng. Đó mới chính là niềm hạnh phúc và sung sướng to lớn nhất. Các bạn trẻ thử nghĩ đến điều đó đi, bởi đó không chỉ là giấc mơ ấp ủ từ lâu nay của hàng triệu con người đă sinh ra và sống trên vùng đất phù sa châu thổsông Cửu Long này. Giấc mơ này bao giờ mới trở thành sự thật, nếu như ngay thế hệ chúng ta vẫn c̣n ngoảnh mặt làm ngơ? Không lẽ lại đợi đến thế hệ con cháu chúng ta?
Mong rằng sẽ nhận được những ư kiến xây dựng, nhất là từ các bạn đàn anh. Với các bạn trẻ, tôi rất mong được tiếp tục chia sẻ và hợp tác trong nghiên cứu và thử nghiệm v́ một tương lai tốt đẹp của Việt Nam,hoàn toàn không phải v́ cái "tôi" mà là v́ quê hương của tất cả chúng ta, bởi tôi tin sự sáng tạo và chịu khó sẽ được đền bù xứng đáng.

3.¨ NGHIÊN CỨU THỰC ĐỊA (SITE ANALYSIS)

Miền Tây Nam Việt, khi cố h́nh dung lại mảnh đất quê hương yêu dấu này của tôi th́ con sông Cửu Long với chín cửa và hàng ngàn kilômét kinh rạch chằng chịt, với mùa nước nổi và lũ lụt hàng năm,…là h́nh ảnh nổi bật nhất luôn đọng lại trong tâm trí tôi. Có thể nói sông rạch là mạch máu luân lưu nuôi sống toàn miền. Xây dựng nhà ở trên miền đất này không thể không quan tâm đến con sông Cửu Long và mạng lưới sông rạch chằng chịt ở đây. Ai cũng thích sống gần sông rạch bởi đó vừa là nơi cung cấp nguồn nước ngọt cho cuộc sống, cho tưới tiêu, cung cấp thực phẩm (cá, tôm, tép…), vừa là nơi tắm rửa, giặt giũ, vừa là "xa lộ" êm mát và trữ t́nh nhất thế gian này. Gần sông rạch, không khí mát mẻ và dường như thanh tịnh hơn. Tuy vậy, lũ lụt và mùa nước nổi lại là một vấn đề "đau đầu" bởi không dễ khắc phục khó khăn này, chưa kể phèn chua & ngập mặn cũng rất nan giải. Cho nên, đề tài này là vấn đề mà bản thân tôi lưu ư trước hết, trong bối cảnh đất nước c̣n nhiều khó khăn, chưa thể giải quyết mọi vấn đề ở tầm mức quy mô hơn.
Tuy sống gần sông rạch nhưng lúc nào nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long cũng coi nước (ngọt + sạch) như là một mối quan tâm hàng đầu bởi nước nước (ngọt + sạch) cũng là một nhu cầu quan trọng bậc nhất trong cuộc sống thường ngày, như cơm gạo và không khí vậy. Nhà nào cũng có ít nhất một lu nước uống, vài lu nước xài, cũng có khi đào một cái ao hay khá hơn th́ xây luôn một hồ chứa nước (thường chỉ 5 hay 3 thước khối) ngay phía sau nhà. Cho đến tháng 7/94, tôi vẫn thấy hầu như nhà nào trong miệt vườn ruộngcũng chỉ xài nước mưa hay nước từ ao hồ, sông rạch chứ chưa có được hệ thống dẫn nước từ Nhà Máy Nước Quận hay Tỉnh. Trước 1975, Nha Cấp Thủy (Bộ Công Chánh) có nhiều cố gắng trong việc đào giếng để cung cấp nước ngọt cho các vùng thôn quê hẻo lánh nhưng từ đó đến nay, các hệ thống giếng, máy bơm và ống dẫn nước không được cải thiện (chỉ ưu tiên cho đô thị?) mà cũng không thấy xây dựng thêm được là bao? Cũng có thể do nghèo nên họ chưa đủ tiền xài nước máy? Cho nên, khi xây dựng mô h́nh nhà ở cho nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long, chúng ta không thể quên vấn đề này, đồng thời cần tránh gây ô nhiễm môi sinh, nhất là hệ thống sông rạch vùng này.
Nông dân gắn liền với mảnh đất, ruộng vườn, sông rạch như thế nào th́ họ cũng yêu quư con trâu, cái cày, cái bừa, chiếc xuồng của họ như thế đó. Mất những thứ đó là mất chén cơm, manh áo, ảnh hưởng đến cuộc sống của cả gia đ́nh ḿnh. Cho nên, chúng ta không thể không quan tâm đến một nơi cất giữ "gia tài" nhỏ nhoi này. Kiểu nhà ở miền này phổ biến nhất cũng vẫn là kiểu nhà "ba gian hai chái", thường trên một nền đất cao hay là một loại nhà sàn với chuồng trâu, ḅ, heo, gà… phía dưới (chủ yếu ở vùng có mùa nước nổi hay dễ bị lũ lụt hàng năm). Cửa chính mở rộng ra ngay giữa gian chính - đó cũng là nơi thờ phượng, tập hợp gia đ́nh và sinh hoạt chung (như living room ở Mỹ vậy). Trước tủ thờ là một bàn ăn hay bàn khách với 2 hay 4 ghế (tuỳ giàu hay nghèo mà số lượng và chất lượng bàn ghế thay đổi), đây là nơi ăn uống chung của gia đ́nh, ngoại trừ các gia đ́nh khá giả hơn th́ có bàn ăn đàng hoàng hơn phiá sau, gần khu chái bếp. Chổ ngủ thường là một bộ ván ngay phía sau tủ thờ hay ở 2 gian bên. Đầu bộ ván thường là tủ quần áo, mùng mền. Chái phải thường chứa thóc, lúa giống và các nông ngư cụ. Chái trái thường là nơi để ghe xuồng, với pḥng tắm sát bên chái bếp phía sau. Góc bếp thường nằm sau chái hè, gần sàn nước và mấy cái lu hay hồ chứa nước. Dưới mấy cái bếp thường là mấy đụn rơm rạ, than củi hay mấy tàu lá khô - tôi muốn nói đến một nơi chứa "chất đốt". Khói bếp cứ mặc nhiên tỏa ra "thoải mái" theo các khe hở giữa mái lá (độ dốc thấp, thường là lợp lá dừa nước, trung b́nh 5 hay 3 năm thay lại một lần) và vách đất (hay vách lá / nhà nghèo). Mái ngói, tường gạch quét vôi chỉ có ở những nhà khá giả hơn, thường gần quận lỵ hay tỉnh lỵ, hoặc ở thị trấn hay các xă trù phú. Pḥng tắm thường sát cạnh bếp, sàn nước và hồ chứa nước.
Nhà vệ sinh thường là loại "cầu cá tra" nằm trên ao cá xa nhà một tí nhưng thoáng mát, tiện lợi và rất đơn giản. Các nhà khá hơn th́ cất một pḥng tắm chung với nhà cầu /vệ sinh ngay phía sau bếp, với một hồ chứa nước xài. Tuỳ địa phương, tuỳ điều kiện địa lư tự nhiên (là nơi đất giồng/ g̣ hay ngập nước/nước nổi, là miệt vườn/ ruộng hay ven đô), tuỳ sở thích và khả năng tài chánh của gia chủ, nhà ở cho nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long có sự sắp xếp bên trong (interior) và kiểu cách bên ngoài (exterior), dù có "lai Tàu" hay "lai Tây" mà có thay đổi thêm chút đỉnh, bố cục không gian nh́n chung vẫn là vậy. Tóm lại, khái niệm về nhà ở cho nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long c̣n đọng lại trong kư ức tôi chỉ đơn giản và vỏn vẹn như vậy thôi.
 
4.¨ THIẾT KẾ KHÔNG GIAN & KHỐI (SPACE & FORMS) VÀ NHU CẦU CĂN BẢN (BASIC NEEDS)
 
Từ cái "sườn" (frame - outline, sketching) căn bản đó, chúng ta có thể bắt đầu nghiên cứu "b́nh đồ" (floor plan) của một căn nhà tiêu biểu, với những nhu cầu, hoàn cảnh / điều kiện và tiện nghi căn bản như vậy. Sau đó là t́m cách sắp xếp lại "không gian" (space), t́m ra các khoảng trống (open spaces) để có thể nối kết (connection) hợp lư và lưu thông (circulation) thuận tiện nhất. Sự sáng tạo của mỗi cá nhân được thể hiện độc đáo hay không là trong bước quan trọng này, trước khi đi tiếp giai đoạn kế: kết cấu và tạo dáng cho một tổng thể hoàn chỉnh. Vật liệu được sử dụng cho mô h́nh nhà ở cho nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long cùng lúc phải thỏa măn 5 mối chính đă nêu trên đây, trong đó phải chú ư đến việc đáp ứng điều kiện địa lư, khí hậu, thủy văn ở từng khu vực riêng biệt (nếu có được một mẫu mô h́nh có thể lắp ráp để có thể di chuyển và sử dụng thuận tiện cho nhiều điều kiện / hoàn cảnh khác nhau th́ thật hay!). Bên cạnh đó, phí tổn cần thu hẹp trong con số từ 2,500 đến 5,000 Mỹ kim (Hai ngàn năm trăm đến năm ngàn mỹ kim/ thời điểm 1994) cho mỗi căn nhà (không kể tiền đất).
Do đó, sự kết hợp giữa giáo viên & sinh viên ngành kiến trúc, xây dựng với các khoa khác (lư, hóa, cơ, điện, thuỷ văn khí tượng, sức bềnvật liệu …) thuộc các trường đại học (Bách Khoa, Tổng Hợp…) và chuyên nghiệp khác là điều cần thiết và bắt buộc phải có trong việc nghiên cứu, t́m ṭi một vài loại chất liệu mới nhằm cung ứng cho việc sản xuất ra các loại vật liệu mới cho ngành xây dựng địa phương. Chẳng hạn, chúng ta thử nghiên cứu việc trộn các xơ dừa với thạch cao hay đất sét cùng với một vài loại hóa chất khác để làm ra một loại drywall /sheetrock mới bằng chính nguyên liệu tại chổ / địa phương, vừa tận dụng tài nguyên đất nước, vừa giải quyết nguồn lao động và tiết kiệm rất nhiều, chưa kể có thể xuất khẩu sau này.
Vách tường không thể chỉ dựa vào tôn kẽm hay kim loại nào khác bởi chúng không đáp ứng hoàn cảnh (khí hậu nóng - ẩm - mưa nhiều, lũ lụt 6 tháng/năm, nhiều nơi đất trũng thấp hơn mực nước biển như vùng tứ giác Long Xuyên, Cà Mau…), nhu cầu(rẻ và bền) và sở thích (đơn giản, thoáng mát, tập tục và lề thói của cư dân từng địa phương khác nhau) của "thân chủ" của chúng ta. Với mái nhà cũng vậy, chúng ta không thể quanh quẩn măi với tấm lợp fibro-cement hay tôn các loại (tôn lạnh, tôn lá…),cho dù đó là những loại vật liệu khá phù hợp và khả dĩ đáp ứng với 5 mối trên Quanh nhà ở không thể thiếu một mảnh vườn nho nhỏ để trồng hoa quả và cây kiểng hay các loại rau. Chính điều này sẽ góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ và kinh tế của căn nhà mà ông cha ta đă biết từ lâu. Một vườn cây ăn trái, một hàng dâm bụt, một dậu mồng tơi, vài bụi húng quế… sẽ làm căn nhà thêm tươi mát mà chúng ta không thể quên " khoảng xanh" rất cần thiết này. Một điều quan trọng không nên xem thường: tuyệt đối tránh phá vỡ cảnh quan thiên nhiên trong một không gian chưa hề bị ô nhiễm hay lai tạp. Chỉ cho phép củng cố (enhanced) chứ không được phá hại môi trường tự nhiên, dù vô t́nh hay cố ư đều cần được xử lư nghiêm ngặt, nhất là ở những "đặc khu" như Tràm Chim Tam Nông, sân chim Bạc Liêu, v.v… Cảnh quan, hoàn cảnh kinh tế - xă hội, đời sống người dân và truyền thống lâu đời là những điều chúng ta không thể coi thường khi bắt tay vào thiết kế và xây dựng cho cư dân vùng này. Tôi rất ưa thích loại nhà bè và nhà sàn của bà con sống trong vùng tứ giác Long Xuyên hay ven biển; chỉ cần chúng ta nghiên cứu cải tiến hợp lư hơn th́ cũng có thể giúp bà con sống với lũ lụt khả dĩ an toàn hơn, hoà ḿnh với thiên nhiênđể tồn tại & phát triển chứ đừng nghĩ đến chuyện "cải tạo" cả tự nhiên mà trở nên "không tưởng". Cảnh quan, hoàn cảnh kinh tế - xă hội, đời sống và truyền thống lâu đời là những điều chúng ta không thể coi thường khi bắt tay vào thiết kế và xây dựng cho cư dân vùng này.
Đây là một đề tài hay nhưng không dễ, không đơn giản, không thể giải quyết đơn lẻ mà cần phối hợp để từng bước gỡ 5 mối (nhu cầu + sở thích + rẻ + đẹp + bền)mà không phá vỡ không gian tổng thể (nhất là cảnh quan và môi trường tự nhiên) lẫn giá trị nhân văn truyền thống điạ phương, nhất là phải phù hợp với người dân địa phương.

5.¨ VẬT LIỆU & PHÍ TỔN (MATERIAL & COST)
 Làm sao người sử dụng có thể tự làm hay thay thế dễ dàng(theo kiểu "Do - It - Yourself") th́ quả là thành công đáng kể. Tôi muốn nhấn mạnh ở đây vấn đề tạo nguồn vật liệu mới bằng chính nguyên vật liệu địa phương, vừa phù hợp với sự phát triển hiện đại, vừa đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của cuộc sống chúng ta.
Vấn đề chính mà tôi thật sự quan tâm là làm sao tận dụng nguyên vật liệu sẳn có trong nước (địa phương /tại chổ) để kết hợp với các kiểu dáng (mới mẻ mà không xa rời truyền thống dân tộc) cùng với cách bố cục không gian vừa sáng tạo, hợp lư, vừa thoáng và mạch lạc để h́nh thành những mô h́nh thật sự đáp ứng được những (5) yêu cầu nêu trên. Thử khởi sự bằng viên gạch, tấm vách… để từng bước t́m ra lời giải cho bài toán này xem sao? Có thể từ đó sẽ tạo lập, h́nh thành và củng cố dần một trường phái kiến trúc hoàn toàn mang sắc thái dân tộc Việt
Nam chăng?
Vấn đề chính mà người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp cho mô h́nh này là góp phần t́m kiếm từ những kỹ thuật, kiểu cách, vật liệu của xứ người có thể ứng dụng cho đồng bằng sông Cửu Long. Tôi muốn đề cập đến việc phổ cập thông tin kỹ thuật xây dựng và thiết kế (bao gồm các loại tạp chí, phim ảnh, hội thảo, trao đổi kinh nghiệm qua Email / Internet,v.v…) cho người Việt trong nước, nhất là nguồn tư liệu tham khảo ở các thư viện (trước mắt là tập trung đầu tư cho các thư viện lớn của các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, các thành phố lớn). Cần khuyến khích sự hợp tác trao đổi thông tin kỹ thuật trong giới chuyên viên, sinh viên và nhà buôn, nhà sản xuất; song chớ quên rằng cần sáng tạo sao cho phù hợp hoàn cảnh / điều kiện địa phương mới thật là quan yếu, tránh hiện tượng sao chép, lai tạp bừa băi, cũng đừng "bê nguyên xi" từ xứ người về làm của ḿnh. Những cái "mới" (trong cả kiểu cách thiết kế bên trong và bên ngoài lẫn nguyên vật liệu kết cấu) làm sao được "chấp nhận" mà không phá vỡ những cái "cũ" vốn dĩ đă thành cái "nếp". Khó là ở chổ đó. Tuy nhiên, tôi cũng muốn lưu giữ một số cái "cũ" rất nên giữ, ví dụ như nên có cửa lưới ngăn ruồi muỗi thay v́ dùng quá nhiều cửa kính, làm như vậy sẽ giữ được sự thoáng mát, vệ sinh và tiết kiệm. Cá nhân tôi cũng ưa thích việc dùng "gạch tàu" vừa mát, vừa sạch, dễ lau chùi, dễ thay, dễ lót. Mong sao các loại ngói đỏ sẽ vẫn được dùng để lợp mái nhưng cũng hy vọng rằng các xưởng cưa gỗ sẽ được trang bị hiện đại hơn để không những việc cưa xẻ gỗ đúng tiêu chuẩn quốc tế hơn mà họ c̣n thuộc (treated) gỗ để chống ẩm mốc và mối mọt, tăng cường độ bền trong việc sử dụng gỗ trong xây dựng. Vách tường nên dùng stucco cho vách ngoài (exterior) , c̣n vách trong (interior) th́ có thể xài drywall chống ẩm mốc, thấm thấu bởi chúng ta không thể quên đặc điểm nóng - ẩm - mưa nhiều của khí hậu nhiệt đới gió mùa ở nước ta. Loại sườn metal stud (kích thước 2x4) có thể dùng tạm khi chúng ta chưa có gỗ thuộc và cưa xẻ đúng quy cách như hiện nay, cũng hạn chế được nạn phá rừng và môi sinh, lại có thể tha hồ sáng tạo thêm nhiều thứ rất hay khác trong việc trang trí nội thất. Chúng ta cũng nên tôn trọng lối bố cục vốn dĩ đáp ứng điều kiện tự nhiên và tập quán của người dân địa phương, nhất là nên tránh việc xây cất san sát, thiếu "khoảng xanh" (green spaces) và không thể phá vỡ cảnh quan thiên nhiên vốn dĩ c̣n rất 'trinh nguyên" vô cùng xinh xắn.
 
6. KẾT LUẬN (CONCLUSION).
 
Mô h́nh nhà ở cho nông dân vùng đồng bằngsông Cửu Long đă được thảo luận và triển khai ở Việt
Nam từ đầu thập niên 1990. Tuy có vài mô h́nh đă được thực hiện, nhưng theo ư tôi, vẫn chưa có một mô h́nh nào có thể gọi là "vừa ư;" bởi v́, một mô h́nh lư tưởng không những phải hội đủ các yếu tố như nhu cầu, sở thích, rẽ, bền, và đẹp mà c̣n phải phù hợp với điều kiện thiên nhiên và giá trị nhân văn truyền thống của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một vấn đề tuy phức tạp và khó khăn nhưng vẫn có thể giải quyết thỏa đáng, nếu chúng ta biết tuân thủ những nguyên tắc căn bản về quy hoạch, kiến trúc, xây dựng và phát triển và biết phối hợp một cách khôn ngoan để tận dụng tài nguyên và nhân lực sẳn có.
Một trong những yếu tố quan trọng cần phải nghiên cứu cẩn thận là hệ thống sinh thái và điều kiện thủy học của sông Cửu Long và hệ thống kinh rạch chằng chịt trong vùng. Yếu tố nầy có ảnh hưởng quyết định trên sinh hoạt và giá trị nhân văn của nông dân vùng đồng bằng sôngCửu Long. Tất cả các cơ cấu kiến trúc phải ḥa ḿnh và củng cố hệ thống sinh thái và điều kiện thủy học nầy.
Mô h́nh lư tưởng cho nông dân vùng đồng bằngsông Cửu Long cần phải rút tỉa kinh nghiệm của kiểu nhà "ba gian hai chái" và phải thỏa măn những nhu cầu căn bản trong công việc đồng án cũng như trong sinh hoạt hằng ngày.
Thêm vào đó, sẽ là những tiện nghi để nâng cao mức sống theo đà phát triển chung. Vật liệu dùng cho mô h́nh cũng phải hội đủ năm yếu tố (nhu cầu, sở thích, rẽ, đẹp, và bền) và phải đáp ứng điều kiện về địa lư, khí hậu, và thủy văn ở từng vùng riêng biệt. Quan trọng nhất là làm sao tận dụng nguyên vật liệu có sẳn tại chổ hoặc trong nước mà không ảnh hưởng tai hại đến môi sinh.
Tôi tin rằng chúng ta sẽ t́m được một mô h́nh nhà ở lư tưởng cho nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long.

7. Tác Giả.

KTS. NGUYỄN ĐẠT (VAST Conference -1999), Landscape Architect/ A.S.L.A./ CPU. POMONA / Dames &
Moore (
Santa Ana),Land Design (Buena Park), CALTRANS (District 7/ Los Angeles) - CA Assistant City Planner
(City of
Artesia) - CA Architect/ A.I.A./ U.C.LA./ DES (Redwood City)
Building Plan Checker /
County of Alameda - CA
___________________________________________________________________