XĂ HỘI/VĂN HÓA VIỆT
GS Nguyễn Thanh Liêm
[Hồ Biểu Chánh tên thật
là Hồ Văn Trung sinh ngày 1 - 10 1885 tại làng B́nh Thành tĩnh
G̣ Công. Sau khi
thi đậu bằng thành chung ông thi vào
ngạch Kư lục của Soái phủ Nam Kỳ năm 1906. Bắt
đầu từ đó ông trở thành công chức trong ngành
hành chánh cho đến khi ông về hưu hồi năm
1946. Oâng giữ nhiều chức vụ khác nhau từ
thơ kư đến chủ quận, và phục vụ ở
nhiều nơi từ Sài G̣n đến các tĩnh Miền
Tây Nam Phần. Oâng mất ngày 4 - 11 - 1958 tại tư thất
ở Phú Nhuận, hưởng thọ 74 tuổi.]
Một
nhà văn Pháp đă đặc biệt nhận định
rằng:”Tiểu thuyết gia là sử gia của thời hiện
tại” Le
romancier est un historien du present). Đây là một nhận định
trái thường v́ ai cũng biết là người viết
sử và người viết tiểu thuyết là hai người
làm hai công việc thuộc hai lănh vực khác nhau: một
đàng là khoa học c̣n một đàng là nghệ thuật.
Họ phải vận dụng những chức năng tâm
lư khác nhau để thực hiện những mục tiêu
khác nhau của họ. Tiểu thuyết gia dùng tưởng
tượng của ḿnh sáng tạo một câu chuyện không
có thật (hư cấu), trong khi sử gia phải tận
dụng khả năng suy luận, phân tích, tổng hợp
của ḿnh để làm sống lại những sự thật
đă thuộc về quá khứ. Tuy nhiên ở một khía cạnh
nào đó sử gia và tiểu thuyết gia vẫn có chỗ
gặp gỡ nhau. Mẫu số chung của họ là con
người và văn hóa xă hội. Tiểu thuyết gia dù
có dùng tưởng tượng để sáng tạo câu chuyện
của ḿnh cũng không thể hoàn toàn xa ĺa thực tế
xă hội văn hóa mà ḿnh đă được sinh sống
trong đó. Với con người không thể có sự kiện
“créer ex nihilo”, (tức là sáng tạo hoàn toàn từ hư
không). Tưởng tượng của con người luôn bắt
nguồn từ những h́nh ảnh có trong thực tại rồi
từ đó biến đổi pha trộn làm thành cái ǵ mới
mẻ hơn cái thật có. Thí dụ ta tưởng tượng
ra con ngựa bay chẳng hạn. H́nh ảnh tưởng
tượng này chỉ có được khi ta tựa trên
hai chất liệu có trong thực tế là thân con ngựa
và cánh chim. Ta nối ráp hai chất liệu đó để
tạo nên h́nh ảnh mới mẻ không có trong thực tế
là con ngựa bay. Tiểu thuyết gia cũng vậy. Tuy câu
chuyện của họ là câu chuyện tưởng tượng
nhưng chất liệu làm nên câu chuyện vẫn là những
điều mắt thấy tai nghe trong xă hội/văn hóa
mà họ đang sống. Tùy theo loại tiểu thuyết
mà chất liệu thực tế đó có mặt nhiều
hay ít trong tác phẩm. Tiểu thuyết tả chân xă hội
chứa đựng nhiều sự thực của xă hội
đương thời hơn tiểu thuyết hoang
đường về thời xa xưa. Đối với
Hồ Biểu Chánh mà một số nhà văn học sử
cho là nhà viết tiểu thuyết phong tục th́ chất liệu
thực tế đă chiếm địa vịø hết sức
quan trọng trong tác phẩm của ông. Người ta có thể
xem ông như là nhà viết sử về xă hội văn hóa
miền Nam Việt
Từ năm 1922 là năm
quyển tiểu thuyết đầu tiên “Ai Làm Được”
được xuất bản cho đến năm 1958 là
năm tác phẩm cuối cùng “Hy Sinh” của ông đang
được viết nửa chừng và bỏ dở v́
cái chết của ông, Hồ Biểu Chánh đă cung ứng
cho đọc giả tất cả 64 quyển tiểu thuyết.
Tuy tính trung b́nh mỗi năm ông cho ra đời
không đầy hai quyển tiểu thuyết nhưng thật
sự có những năm ông không cho ấn hành quyển nào cả
và ngược lại có những năm ông đă sản xuất
hơn năm tác phẩm. Năm 1935 chẳng hạn có
đến 6 quyển tiểu thuyết ra mắt đọc
giả (Ở Theo Thời, Ông Cử, Một Đời Tài
Sắc, Cười Gượng, Giây Oan, Thiệt Giả Giả
Thiệt), và đặc biệt riêng trong năm 1957 ông có con
số kỷ lục là 9 quyển ra đời (Trong Đám
Cỏ Hoang, Vợ Già Chồng Trẻ, Hạnh Phúc Lối
nào, Sống Thác Với T́nh, Nợ T́nh, Đón Gió Mát Nhắc
Chuyện Xưa, Chị Đào Chị Lư, Nợ Trái Oan, Tắt
Lửa Ḷng). Sản xuất nhiều như vậy
mà vẫn không đủ cho đọc giả. Thành ra
nếu ta dùng cây thước đo sự thành công của một
tác giả bằng sự yêu chuộng mê say của đọc
giả th́ phải nói là Hồ Biểu Chánh là một tiểu
thuyết gia thành công lớn lao ở thời đại của
ông.
Người ta rất thích
đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Không những
đọc giả cùng thời với ông mà những đọc
giả thời sau này vẫn thích. Ngay cả hiện giờ
ở hải ngoại tiểu thuyết của ông vẫn
có chỗ đứng trong ḷng nhiều đọc giả.
Nhưng đọc giả của ông là ai? Đọc giả
của ông phần đông là những người từ giới
trung lưu đến hạng b́nh dân nhất là phụ nữ.
Đây là những người có chút học vấn (để
đọc chữ quốc ngữ), có chút th́ giờ rảnh
rỗi bên cạnh công việc bận rộn hằng ngày,
có chút tiền đủ để sống cuộc đời
tương đối không quá thiếu thốn, khổ sở,
không phải quá bận tâm về vật chất. Đối
với họ, tiểu thuyết là cửa sổ để
cho họ tạm thời thoát ra khỏi cuộc đời
thực tế nặng nhọc và nhiều khổ đau của
con người. Điểm đặc biệt hơn nữa
là những người thích đọc tiểu thuyết của
ông hầu hết là người miền Nam (v́ đọc
giả miền Bắc và miền Trung có thể không quen với
lời văn và do đó không thấy thích thú nhiều với
giọng điệu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh).
Thành ra ta phải nói thêm là Hồ Biểu Chánh
là tiểu thuyết gia rất thành công đối với
đọc giả miền
Sở dĩ ông thành công lớn
lao trong sự nghiệp tiểu thuyết
đối với đọc giả ở đây v́ giọng
điệu tiểu thuyết của ông hoàn toàn thích hợp
với tâm hồn người dân miền
Miền
Tiểu thuyết của Hồ
Biểu Chánh là tiểu thuyết được h́nh thành và
phát triển trong điều kiện con người và môi
trường văn hóa xă hội đó. Từ câu chuyện,
cách thuật chuyện, cảnh vật làm nền, đến
các nhân vật, chân dung, tính t́nh, tư tưởng, tín
ngưỡng, cách xử sự trong nghịch cảnh, lời
nói, hành động, của họ...tất cả đều
biểu lộ tính cách miền Nam đă nói ở trên.
Trước hết là câu
chuyện. Tiểu thuyết , nhất là tiểu thuyết
viết cho nhiều người b́nh thường đọc
(không phải tiểu thuyết triết lư, luận đề
dành riêng cho hạng thật là trí thức), bao giờ cũng
cần có câu chuyện ít nhiều khúc mắc gay cấn ly kỳ,
với những trớ trêu, những éo le, hay những gian truân,
khốn khổ, những biến cố lạ thường,
đủ để lôi cuốn, hấp dẫn người
đọc khiến người đọc phải bị
kích thích và hồi hộp theo dơi luôn. Câu chuyện của HBC
có đủ các yếu tố hấp dẫn đó mà lại
là câu chuyện xảy ra ở xă hội miền Nam. {Ông có
mượn câu chuyện của Pháp như trong Ai Làm
Được (André Cornelis của Paul Bourget), Chúa Tàu Kim Qui
(Le Comte de Monte-Cristo của Alexandre Dumas), Cay Đắng Mùi
Đời (Sans Famille của Hector Malot), Chút Phận Linh
Đinh (En Famille của Hector Malot), Thầy Thông Ngôn (Les Amours
d'Estève của A. Theuriet), Ngọn Cỏ Gió Đùa (Les
Misérables của Victor Hugo), Ở Theo Thời (Topaze của
Marcel Pagnol), ...nhưng câu chuyện được đặt
vào xă hội miền Nam với ít nhiều thay đổi
cho thích nghi với hoàn cảnh}. Những câu chuyện hoàn
toàn do ông sáng tác đều hấp dẫn không thua ǵ tiểu
thuyết Pháp hay truyện Tàu, mà lại mang đầy tính
chất Việt Nam khiến cho đọc giả càng thêm
ưa thích.
Kế đó là cách thuật
chuyện chơn chất của ông. Ông không cầu kỳ
kiểu cách, không dùng những kỹ thuật sắc sảo
của những tiểu thuyết gia tân tiến, những lối
sắp xếp câu chuyện theo cách các nhà làm phim xi nê. Phần
lớn là ông theo lối kể chuyện Tàu xưa, nghĩa
là tường thuật từ đầu đến cuối
theo thứ tự thời gian. Trong “Tơ Hồng
Vương Vấn” chẳng hạn, câu chuyện được
bắt đầu từ lúc Vĩnh Xuân và Cúc Hương c̣n
là những thiếu niên đi học thêm ở nhà ông giáo
Huân. Rồi họ lớn lên, rồi những biến cố
xảy ra, rồi một ngày kia, sau bao cảnh thăng trầm,
tử biệt sinh ly, họ lại được hội
ngộ ở phần cuối của quyển tiểu thuyết.
Đa số các quyển khác cũng cùng một lối thuật
chuyện như vậy. Khi giới thiệu các nhân vật,
ông hay tuần tự kê khai lư lịch của mỗi người.
Trong “V́ Nghĩa V́ T́nh” ông viết:”Thằng nhỏ này tên nó
là Lư Chánh Hội, cha nó là Lư Chánh Tâm, mẹ nó là Lư Cẩm
Vân.” Trong “Cha Con Nghĩa Nặng” ông tả “Trần Văn Sửu
gốc ở làng Trung Trạch thuộc về tĩnh Vĩnh
Long, cha hồi trước...Hương Thị Tào nhà ở
Ḍng Ké cũng thuộc làng Trung Nghĩa, có một đứa
con gái tên là Nguyễn Thị Lụu...” Người trí thức
mới, thấm nhuần ư hướng nghệ thuật tân
tiến Tây phương có thể xem thường nghệ
thuật kể chuyên của ông, nhưng các đọc giả
trung lưu và b́nh dân trong Nam lại thấy thích thú với lối
kể chuyện chơn chất đó v́ họ dễ dàng
theo dơi câu chuyện hơn.
Câu chuyện xảy ra ở
miền Nam cho nên cái phong cảnh làm nền cho câu chuyện
bao giờ cũng là cảnh vật ở miền Nam, từ
thôn quê đến thành thị. Những cánh đồng, những
con sông, những con đường, những phố xá, những
cơ sở hành chánh, những bến xe lửa, bến tàu,
những tiệm ăn, những khách sạn...với những
danh xưng vô cùng quen thuộc đối với đọc
giả vùng này. Đó là cảnh vật ở các tĩnh G̣
Công, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Châu Đốc,
Long Xuyên, Sài G̣n, Chợ Lớn,... hay các quận Ô Môn, B́nh Thủy,
Càng Long, Vũng Liêm, Cà Mau, vv....Trên nền phong cảnh
đó diễn ra những sinh hoạt sống động của
xă hội miền Nam thời Hồ Biểu Chánh từ hạng
có học, có địa vị, có tiền của, đến
những kẻ cùng đinh, những hạng tá điền
hay người làm mướn, vv...từ cá nhân đến
gia đ́nh, bạn bè, đồng nghiệp, với các nghề
nghiệp, các hoạt động hằng ngày, không thiếu
một thứ ǵ. Sinh hoạt ở trong học đường,
sinh hoạt ở ngoài đường phố hay trong chợ
búa, công việc trong ṭa bố cũng như công việc ở
làng xă, sự đầu tư vào ruộng đất cũng
như cảnh sạt nghiệp v́ khủng hoảng kinh tế,
cảnh nhà lá tồi tàn cũng như cảnh nhà đồ
sộ với bao nhiêu bàn ghế tủ cẩn ốc xa cừ,
cảnh hút thuốc phiện cũng như cảnh đờn
ca nhậu nhẹt, cảnh di chuyển bằng ghe xuồng,
xe hơi, xe lửa, cảnh đi về Hậu Giang bằng
tàu, vv...tất cả đều có đủ, kể cả
những phong tục tập quán, những thói quen suy tư
và những tín ngưởng của các hạng người.
Đọc hết tác phẩm của ông người ta có thể
t́m thấy đầy đủ cả một xă hội hay
nền văn hóa của miền Nam từ thời 1920 đến
1945 vậy.
Tư tưởng đạo
đức luân lư và tín ngưỡng, tôn giáo trong tiểu thuyết
HBC đặc biệt thể hiện tinh thần dung ḥa/tổng
hợp Đông Tây, khoa học Âu Tây và đạo đức
luân lư Á Đông. Trong t́nh yêu và hôn nhân tuy vẫn có cảnh cha mẹ
đặt đâu con ngồi đấy nhưng cũng
đă có nhiều gia đ́nh rộng răi hơn trong vấn
đề này, và khuynh hướng chung là tự do của lứa
đôi trong việc chọn người yêu, có cả tiền
dâm hậu thú nữa (Ai Làm Được), nhưng miễn
không có tính cách tự do bừa băi, hoàn toàn chạy theo ham muốn
sắc dục, mà ngược lại vẫn sáng suốt, vẩn
biết tốt xấu, vẫn phân biệt được
điều hơn lẽ thiệt (Hai Thà Cưới Vợ).
Tin ở sự đầu thai (Tơ Hồng Vương Vấn),
tin ở Phật Trời (Một Đời Tài Sắc), ở
sự thờ cúng ông bà như phần đông người
dân miền Nam. Tin ở khoa học, ở học vấn và
sự mở mang, khai hóa, phát triển xứ sở...(Khóc Thầm).
Vai tṛ của phụ nữ được nâng cao hơn.
Nhiều nữ nhân vật trong tiểu thuyết của HBC
có học khá như Đoàn Thu Hà trong Khóc Thầm, Xuân
Hương trong Một Đời Tài Sắc, vv...Tư
tưởng, tín ngưỡng của các nhân vật chính nh́n
chung có khuynh hướng tổng hợp, kết nạp nhiều
luồng tư tưởng Đông Tây. Hầu hết các câu
chuyện đều kết thúc có hậu, nghĩa là sau
cùng, đạo đức, việc phải, ḷng tốt bao
giờ cũng thắng, và kẻ ác kẻ xấu rồi phải
ăn năn hoặc đền tội. Tuy nhiên khuynh hướng
trừng trị bằng ḷng nhân, bằng sự ḥa giải,
tha thứ, biến đổi vẫn có chỗ đứng
quan trọng trong ḷng người. Nó có tính cách
rất là miền
Sau hết, lời nói và câu
văn của ông đă thể hiện tính cách đặc biệt
của văn hóa miền
............
Giáo sư Phạm Thế Ngũ
trong quyển Việt NamVăn Học Sử Giản Ước
Tân Biên đă viết như sau, khi đề cập đến
một số những khía cạnh trong xă hội miền
Nam trong tiểu thuyết HBC: “Người đọc ngó kỷ
trong thế giới Biểu Chánh tất nhiên c̣n thấy nhiều
h́nh ảnh khác về cái xă hội miền Nam trước
đây, có thể thấy đủ để làm một luận
án phong phú về vấn đề này.” Tôi hoàn toàn đồng
ư với Phạm Thế Ngũ ở điểm này. Người
nghiên cứu về xă hội về văn hóa hay lịch sử
của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ
XX có thể lấy được rất nhiều dữ
kiện trong kho tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh. Ra đời năm 1885 ở tại G̣ Công ông lớn
lên trong buổi giao thời lúc người Pháp bắt đầu
thực thi chính sách cai trị mới ở miền Nam.
Được học hành và hấp thụ nền học
thuật mới của Tây phương bên cạnh vốn
đạo học Á Đông, ông nối gót Trương Vĩnh
Kư trên đường sử dụng chữ Quốc Ngữ
phát huy nền văn học mới. Viết báo, soạn
sách, sáng tác là công việc chính của hai ông bên cạnh cuộc
đời công chức mà các ông cần có để nuôi sống.
Đặc biệt nhất là về tiểu thuyết mới,
Hồ Biểu Chánh không phải chỉ là người mở
đầu cho tiểu thuyết mới bằng chữ Quốc
ngữ trong văn học Việt Nam mà c̣n là một tiểu
thuyết gia lớn, rất thành công ở thời đại
của ông. Trong hơn 60 quyển tiểu thuyết mà ông
đă cống hiến cho đọc giả ông đă
đưa hết vào đó mọi khía cạnh sinh hoạt của
xă hội miền Nam thời bấy giờ. Ông đă
đóng đúng vai tṛ của một “sử gia của thời
hiện tại” ở miền Nam nước Việt vậy.