TRUNG QUỐC NGĂN SÔNG -  THÁI LAN CHUYỂN D̉NG CON SÔNG -  MEKONG ĐANG CHẾT DẦN

 

Chẳng biết một trăm năm sau

c̣n  không Đồng Bằng Sông Cửu Long

  một nền Văn Minh Miệt Vườn

 

ĐỊA LƯ THÁI LAN

 

Với diện tích hơn 500,000 km2, lớn hơn Việt Nam, gần bằng nước Pháp, dân số 60 triệu, tăng 1.5 % mỗi năm, tiếp giáp với 4 nước: Miến Điện, Lào, Cam Bốt và Mă Lai. Con sông Mekong là biên giới thiên nhiên giữa Thái Lào. Gồm 5 khu vực hành chánh: Bắc, Đông-Bắc, Trung Thái, Nam và Thị trấn Bangkok.

 

- Vùng Trung Thái là châu thổ của con sông lớn Chao Phraya nhiều phụ lưu, với những cánh đồng ph́ nhiêu, được mệnh danh là vựa lúa của Thái, khiến quốc gia này trở thành  nước xuất cảng lúa gạo lớn nhất thế giới.

- Vùng Bắc Thái có diện tích rộng lớn nhất, nguyên là vùng núi non với những thung lũng hẹp. Chiang  Mai là thị trấn phía bắc chỉ lớn thứ hai sau Bangkok.

- Vùng Đông-Bắc c̣n được gọi là cao nguyên Khorat hay Isan, lớn thứ hai, với văn hóa ngôn ngữ gần với người Lào. Nguyên là vùng nghèo hẻo lánh cho tới những năm 60, để đáp ứng với cường độ chiến tranh gia tăng tại Việt Nam và cũng để ngăn chặn xâm nhập của cộng sản vào đất Thái, Mỹ đă ồ ạt đổ tiền vào phát triển cao nguyên Isan, mở mang hệ thống xa lộ tối tân, xây phi trường quân sự chiến lược. Mỹ cũng tích cực giúp Thái xây hai con đập thủy điện Nam Pong và Nam Pung, nhằm điện khí hóa nông thôn, cải thiện dẫn thủy khiến mức nông sản gia tăng vượt mức.

- Vùng Nam trải dài xuống tới Mă Lai, với những băi biển đẹp hấp dẫn đông đảo du khách ngoại quốc; cư dân đa số là người gốc Mă Lai, người Chăm theo đạo Hồi, sống bằng trồng cây cao su kỹ nghệ. Thái hiện đang phải đương đầu với những bất ổn trong các khu vực người Hồi giáo.

 

Khí hậu mưa nắng hai mùa: mùa Mưa từ tháng 6 tới tháng 10, mùa Khô từ tháng 11 tới tháng 5;  với 3 tháng cực nóng là từ tháng 3 tới tháng 5, có khi trên 40 độ C.

 

Là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không bị ách đô hộ của thực dân Anh Pháp vào thế kỷ 19, lại thoát khỏi nửa thế kỷ chiến tranh, được hưởng lợi từ cuộc chiến tranh Việt Nam, phải nói rằng như một phép lạ, thập niên 80 như một phép lạ, là thời kỳ phát triển huy hoàng nhất của Thái Lan: đứng đầu thế giới về xuất cảng lúa gạo, sản lượng tăng 600% so với diện tích canh tác chỉ tăng 68%, chưa kể số ngoại tệ thu về c̣n cao hơn trong lănh vực du lịch với hơn 10 triệu du khách / năm. Phát triển nhanh nhưng không bền vững, khoảng cách giàu nghèo trong xă hội Thái Lan ngày càng đậm nét.

 

MỘT ĐẤT  NƯỚC LUÔN KHÔ HẠN

 

Từ  thập niên 90s, Thái Lan đă phải thường xuyên đối đầu với nạn thiếu nước. Do thiếu mưa, mực nước trong các hồ chứa cũng là đập thủy điện, xuống thấp chỉ c̣n 1/3. Hai con đập lớn : một mang tên hoàng hậu Sirikit trên sông Nan và một mang tên vua Bhumibol trên sông Ping, cả hai chưa bao giờ mực nước xuống thấp tới như vậy. Theo ước tính của Bộ Thủy Lợi Hoàng Gia Thái th́ phải cần tới ít nhất 7 tỉ mét khối nước [7,000 MCM] chỉ riêng cho các nông gia vùng Trung Thái, trong khi lượng nước trong các hồ chứa chỉ có 1.3 tỉ mét khối [1,300 MCM]. Giống như  Đồng Bằng Sông Cửu Long [ĐBSCL] Việt Nam, t́nh trạng cạn ḍng của con sông Chao Pharaya đă đưa tới nạn nhiễm mặn từ vịnh Thái Lan vào rất sâu trong đất liền, gây thiệt hại cho ruộng đồng và nhất là các vườn cây trái rất nổi tiếng của Thái.

 

Bao nhiêu giả thiết được đưa ra như  nạn phá rừng [từ 70% diện tích nay chỉ c̣n 20%], mức gia tăng diện tích trồng trọt, nhu cầu tăng nước cho các khu kỹ nghệ và đô thị; phải kể cả việc nông dân sử dụng phí phạm nguồn nước, hay việc phân phối cung cấp nước  không hợp lư...

Thái đă xây rất nhiều những con đập lớn đa năng [multi-purpose projects] với nguồn nước  vừa dùng để chạy các turbine nhà máy thủy điện, vừa dùng cho thủy lợi canh nông.  EGAT [Electricity-Generating Authority of Thailand] đă ưu tiên sử dụng nước theo nhu cầu điện năng của các khu kỹ nghệ và gia   nên đă lăng phí nước trong hồ chứa ngay cả trong mùa khô.

 

Các biện pháp giải quyết như khẩu phần hóa lượng nước dùng trong kỹ nghệ và gia dụng, bán nước cho nông gia khiến họ phải tiết kiệm, khuyến khích trồng loại nông sản ít cần nước... Nhưng trong thực tế các biện pháp ấy chỉ có giá trị trên lư thuyết nên cuối cùng giải pháp luôn luôn hấp dẫn vẫn là hoặc [1]  xây thêm đập hoặc [2] chuyển ḍng sông Mekong.

 

[1]  Xây Thêm Đập. Thái Lan là quốc gia đầu tiên trong lưu vực sông Mekong đă tận dụng xây các đập thủy điện và những hồ chứa trên khắp lănh thổ Thái [hơn 40 con đập] đến mức không c̣n nơi chốn khả thi để xây thêm đập mà không phá hủy nghiêm trọng môi sinh và gây ảnh hưởng tiêu cực trên đời sống của cư dân địa phương.

Ngay cả với những con đập hiện có đă chẳng phải là một toan tính khôn ngoan của Thái Lan, v́ các đập xây xong không có đủ nước cho hồ chứa, do lượng mưa thấp lại thêm hiện tượng nước nhỉ thoát qua ḷng đập đá vôi [limestone bed] đă khiến cho những con đập nổi tiếng như Bhumibol hoàn tất 1964 và con đập Sirikit, cho tới nay chưa bao giờ đủ nước để trữ đầy. T́nh cảnh cũng không khá ǵ hơn  ngay  với con đập Shrinakanin lớn nhất trên cao nguyên Isan hoàn tất từ 1977.

 

[2]  Chuyển Ḍng Sông Mekong:

Và hiển nhiên, giải pháp đầy hứa hẹn là Thái hướng về khai thác nguồn nước của con sông Mekong. Phản ánh quan điểm ấy, và cũng không dấu tham vọng, bộ trưởng Thương Mại Thái Akrasanee đă dơng dạc phát biểu trước Hội Đồng Thương Mại Hỗn Hợp Mỹ và Các Quốc Gia Đông Nam Á / ASEAN tháng 5/97: Thái Lan muốn đóng vai tṛ chủ chốt trong kế hoạch phát triển sông Mekong. Thái chỉ sợ bị trừng phạt bởi Bắc Kinh nhưng Trung Quốc lại ở vị trí thượng nguồn; c̣n với ba nước trong khu vực hạ lưu, Thái Lan chỉ cần hội ư rồi đổi ḍng chảy và cho dù ai đó có lên tiếng phản đối th́ nay đă không c̣n quyền phủ quyết chiếu theo nội quy mới của Ủy Hội Sông Mekong 1995.

 

Chuyển ḍng lấy nước từ con sông Mekong, đối với Thái Lan là biện pháp khả thi với cái giá môi sinh có thể chấp nhận được; nhưng c̣n đối với các quốc gia láng giềng th́ sao?  Hiện chưa có được một lượng giá ảnh hưởng môi sinh khả dĩ có thể tin cậy được nhưng đó không phải là mối ưu tư hàng đầu của chánh phủ Thái.

 

Không phải chỉ riêng Thái Lan thiếu nước mà đó là t́nh trạng khủng hoảng chung của 6 quốc gia trong lưu vực. Ví dụ chỉ riêng với Việt Nam, ĐBSCL với 2.4 triệu hecta là vùng sản xuất lúa gạo và thủy sản, cung cấp 50% lượng thực phẩm cho cả nước. Nếu không đủ nước trong mùa khô th́ sẽ có tới 2  triệu hecta đất trồng trọt bị ngập mặn, sẽ là một thảm họa không những cho mùa màng mà c̣n trên toàn hệ sinh thái vùng châu thổ, ảnh hưởng ngay trên chén cơm vơi đầy của mỗi người dân Việt. Nạn nhiễm mặn không chỉ giới hạn trong vùng ĐBSCL mà c̣n có thể lấn sâu và tiến xa lên tới tận Nam Vang.

 

 

TỪ CẦU ĐẢO TỚI  PHONG HOÁN VŨ:

 

Từ  buổi hoang sơ cho tới thế kỷ 20, khi con người đă vượt  ra khỏi trọng lực trái đất, đặt chân lên mặt trăng, th́ chuyện có mưa hay không vẫn cứ măi là vấn đề sinh tử đối với nông gia trên hành tinh này.

Ở một thời kỳ chưa hẳn đă quá xa, khi bị hạn hán, để  cầu mưa người ta đă phải giết trâu giết cừu để tế  lễ; theo truyền thuyết từ  Trung Hoa, có nơi dân làng c̣n t́m chọn các cô gái đẹp đồng trinh đem thả trôi sông để dâng cúng thủy thần, với niềm tin rằng thần động ḷng mà ban cho những cơn mưa cứu hạn.

 

Ngày nay, vẫn không thiếu những nông dân Thái cúng quải cầu mưa, nhưng ít nhất từ hơn ba thập niên qua, Thái Lan đă là một trong những quốc gia tiên phong ở Á châu [cùng với Trung Quốc, Hồi Quốc... ] biết áp dụng kỹ thuật “cấy-mây/ clouds-seeding làm ra mưa nhân tạo để cấp cứu những vùng đồng ruộng bị khô hạn. 

Cơ quan Hàng Không Canh Nông Thái với  hơn 600 nhân viên và 45 máy bay, với ngân khoản lên tới 25 triệu Mỹ kim/ năm, dưới sự điều động trực tiếp của vua Bhumibol cũng là người đă có bằng về kỹ thuật mưa nhân tạo, đă vận dụng khoa học kỹ thuật, nhằm đối phó tức thời với t́nh trạng hạn hán do chu kỳ mưa nắng càng ngày càng trở nên thất thường ở Thái.

 

Những  chiếc phi cơ  cánh quạt hàng không Thái với phi hành đoàn 7 người, mang theo những thùng hóa chất như silver iodine hay muối hoặc nước đá khô,  bay tới những cánh đồng lúa đang bị khô hạn; lên tới cao độ 3,000 m, phi cơ bay thẳng vào những đám mây, rải hóa chất,  với tác dụng kết tụ những hạt hơi nước rất nhỏ thành những giọt mưa và tiếp đó là một cơn mưa nhân tạo. Kỹ thuật ngoạn mục này có những hạn chế,  tác dụng trên quy mô nhỏ,  và chỉ có thể thành công khi các đám mây có độ ẩm cao trên 60%. (2)

Và hiển nhiên, với một đất nước Thái Lan đang khát nước khủng khiếp, giải pháp hữu hiệu và lâu dài vẫn là chuyển ḍng lấy nước từ con sông Mekong.

 

DỰ ÁN MỘT:  KONG-CHI-MUN ĐÔNG BẮC THÁI

 

Từ 1992, chánh phủ Thái đă tiết lộ Kế hoạch Dẫn thủy KCM [Kong-Chi-Mun Irrigation Project] chuyển ḍng lấy nước trực tiếp từ  sông Mekong.  Đó là một công tŕnh vô cùng lớn lao với tổn phí lên tới 4 tỉ Mỹ kim để cứu những vùng đất Thái Lan đang càng ngày càng bị khô hạn.

Nguồn nước được lấy từ khúc sông Mekong gần Nong Khai, chuyển về 2 con sông Chi và sông Mun qua một hệ thống ống dẫn / aqueduct khổng lồ  dài 200 km. Nước sông Mekong sẽ được dùng  cho việc cứu hạn những cánh đồng lúa nằm trong lưu vực hai con sông này. Dự tính ban đầu là chỉ lấy nước sông Mekong trong mùa mưa, nhưng sau đó Thái Lan quyết định lấy nước cả trong mùa khô với lưu lượng chuyển ḍng lên tới 300 m 3/ giây [trên lưu lượng 1600 m3/ giây mùa khô / ĐBSCL hiện nay] (7)

 

[Tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây, năm 1994 Thái hoàn tất con đập Pak Mun, trên sông Mun, một phụ lưu của con sông Mekong và đă gây rất nhiều tranh căi].

 

Giai đoạn I của dự án KCM đă được chánh phủ Thái Lan thông qua cho dù bị chính nhóm chuyên viên Thái cho rằng tổn phí th́  quá cao và sự lượng giá ảnh hưởng môi sinh EIA [Environmental Impact Assessment] c̣n quá thiếu sót.

Ai cũng biết rằng dự án chuyển nước KCM thuộc trách nhiệm của Cục Thăng Tiến Năng Lượng và Phát Triển [Department of Energy Promotion and Development] trực thuộc Bộ Khoa Học, Kỹ Thuật và Môi Trường Hoàng gia Thái_  chính Bộ này có trách nhiệm thực thi các luật lệ về môi trường của chánh phủ Thái Lan. Ngay từ giai đoạn I của dự án KCM đă đưa tới hủy hoại các khu rừng   [flooded forest], tăng nhiễm mặn các vùng trồng trọt Đông Bắc Thái, đă ảnh hưởng trực tiếp đời sống cư dân địa phương. (8)

 

Kế hoạch KCM, hiển nhiên đe dọa nghiêm trọng trên ḍng chảy sông Mekong, nên rất sớm và tức thời  từ 1992, chánh phủ Việt Nam đă chính thức lên tiếng phản kháng mạnh mẽ, yêu cầu Thái Lan phải hủy bỏ kế hoạch, v́ hậu quả nhiễm mặn nơi ĐBSCL sẽ trầm trọng hơn nữa, nhất là trong mùa khô. Ngay cả Lào cũng bày tỏ mối quan ngại, v́ với kế hoạch chuyển ḍng 300 m 3/ giây sẽ khiến con sông  cạn ḍng gây trở ngại  giao thông trên sông Mekong vốn như một xa lộ nâu huyết mạch của người dân Lào. Bộ trưởng Môi sinh Cam Bốt,  tiến sĩ Mak Moreth đă bày tỏ mối quan ngại về hậu quả nghiêm trọng do dự án chuyển nước của Thái Lan càng làm suy giảm ḍng chảy con sông Mekong nơi hạ nguồn. (6)

 

V́ những khác biệt giữa Thái Lan và Việt Nam ở giai đoạn ấy hầu như  không ḥa giải được khiến  Ủy Ban Mekong Lâm Thời hầu như  tê liệt; sự kiện này đă đưa tới việc cưỡng bách từ nhiệm của Chuck Lankester, lúc đó đang là Tổng thư kư.

 

TỪ KONG-CHI-MUN THÁI LAN TỚI  MURRAY-DARLING ÚC CHÂU

 

Theo các chuyên gia, th́ có nhiều nét tương đồng giữa lưu vực hai con sông Chi-Mun ở Thái và lưu vực hai con sông Murray-Darling ở Úc.

Murray-Darling là một trong những lưu vực lớn nhất của Úc, bao trùm 4 bang: New South Wales, Victoria, South Australia và Queensland, diện tích hơn 1 triệu km2  với 3 con sông lớn nhất của Úc: sông Darling 2740 km, sông Murray 2530 km và sông Murrumbidgee 1690 km.

Các cơ chế quản lư các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường thuộc lưu vực Murray-Darling đă có từ 1992, sau đó là những điều khoản bảo vệ môi trường và đa dạng sinh thái có từ 1999, nhưng toàn hệ sinh thái Murray-Darling đă bị sút giảm nghiêm trọng do tác động của con người qua những kế hoạch chuyển ḍng, chuyển nước, khai quang và gây nhiễm mặn đất. (10)

 

Đă có hai hội nghị về Đối Thoại Mekong / Mekong Dialogue. Hội nghị đầu tiên “Thành phần Úc châu họp ở Brisbane với các đại diện đến từ lưu vực sông Mekong.  Hội nghị thứ hai Thành phần Mekong với đại diện đến từ  Úc, họp tại Ubon Ratchatani (từ 8 -12 tháng 11, 2002) với chủ đề  Đối Thoại về Phát Triển Lưu Vực và Xă Hội Công Dân trong Vùng Mekong  [Dialogue on River Basin Development  and Civil Society in the Mekong Region].

Mục đích chính của cả hai hội nghị nhằm khuyến khích sự tham gia của xă hội công dân trong thảo luận về những thuận-và- nghịch  trong Dự án KCM của Thái Lan đối với toàn lưu vực Mekong so sánh với dự án Murray Darling của Úc.

 

Tiến sĩ Prathet Sutrabutra, nguyên giám đốc Cục Phát Triển Năng Lượng và Thăng Tiến và cũng là thành viên Ủy Ban Quốc Gia Sông Mekong Thái Lan trong hơn 10 năm qua, phát biểu rằng ông tin là có rất nhiều điểm tương đồng giữa lưu vực sông KCM [Thái] và Murray-Darling [Úc], đó là lư do khởi đầu cho một kế hoạch hiệp đồng [Joint project] giữa Ủy Hội Sông Mekong và Ủy Hội Lưu Vực Murray Darling.

Sutrabutra thay v́ có được tiếng nói hỗ trợ từ  phái đoàn Úc, nhưng ngược lại, chính tiến sĩ  Angela Artington, thuộc đại học Griffith từ  Úc châu, đă bày tỏ mối quan ngại cho rằng  những ảnh hưởng môi sinh nghiêm trọng đă xảy ra cho lưu vực Murray-Darling, cũng sẽ rất sớm xảy ra cho lưu vực sông Mekong, do hậu quả của những dự án làm thay đổi ḍng chảy thiên nhiên của các con sông trong lưu vực sông Mekong.

 

Những so sánh đối chiếu các kinh nghiệm của Murray-Darling và KCM  đă gây được rất nhiều chú ư của các thành viên tham dự hội nghị Ubon Ratchatani và nơi đó tiếng nói của người dân địa phương Thái Lan đă được lắng nghe. (9)

 

DỰ ÁN HAI:  KOK-ING-NAN BẮC THÁI

 

Từ  1994, chánh phủ Thái Lan đă nói tới một dự án lớn thứ hai:  Dự án Kok-Ing-Nan,  gián tiếp lấy nước từ  hai phụ lưu lớn của con sông Mekong là sông Kok và sông Ing ở vùng Chiang Rai bắc Thái. (5)

 

Cơ quan Hợp tác Quốc Tế Nhật Bản JICA (Japan International Cooperation Agency),  đă cung cấp ngân khoản và chuyên viên để nghiên cứu tính khả thi của công tŕnh, và cuộc khảo sát này đă hoàn tất vào tháng 11 năm 1999.

Phải nói đây là một dự án có quy mô rất lớn và táo bạo tổn phí lên tới 1.5 tỉ Mỹ kim, nhằm chuyển ḍng nước từ hai phụ lưu sông Mekong, cho chảy qua những  đường hầm / tunnels khổng lồ dài hơn 100 km để chuyển nước từ  2 con sông Kok và sông Ing vào sông Nan_ là một phụ lưu của sông Chao Phraya.

 

Sông Chao Phraya, như mạch sống của người dân Thái đang bị cạn ḍng và cả nhiễm mặn ngày càng thêm trầm trọng. Lượng nước từ hai con sông phụ lưu Kok và Ing cũng sẽ được tiếp cho con đập Sirikit, lớn thứ ba nhưng quanh năm thiếu nước. Nước từ hồ chứa Sirikit không chỉ nhằm cung cấp nước tưới cho những cánh đồng bao la vùng châu thổ Chao Phraya đang bị khô hạn, mà cả cung ứng nước cho các khu kỹ nghệ và 10 triệu dân đang sống ở thủ đô Bangkok. (4,5)

Khi công tŕnh  hoàn tất, Thái Lan có khả năng chuyển 2,200 triệu mét khối nước/ năm [2,200 MCM] gián tiếp lấy nguồn nước của con sông Mekong.

 

Đă có những e ngại ngay tại Thái Lan về phương diện kỹ thuật, về ảnh hưởng xă hội và môi sinh như làm sao để vận chuyện và sử lư khối lượng đất khổng lồ lấy ra từ những con đường hầm; rồi t́nh trạng giảm lưu lượng nước trên hai con sông Kok và sông Ink sẽ ảnh hưởng trên cư dân địa phương ra sao; c̣n phải kể tới nạn lũ lụt dây chuyền có thể gây ra trên sông Nan.

 

Đă có nhiều ư kiến chỉ trích về sự  thiển cận của kế hoạch khi nhằm giải quyết nạn thiếu nước của con sông lớn Chao Phraya, mà không nghĩ tới những hệ quả lâu dài  trên toàn lưu vực sông Mekong.

 

Việc so sánh dự án KCM với dự án Murray-Darling của Úc là không thích đáng bởi v́ KCM liên hệ tới con sông Mekong như một con sông quốc tế thuộc 6 quốc gia trong khi Murray-Darling là những con sông hoàn toàn nằm trong nội địa nước Úc.

Riêng đối với dự án  Kok-Ing-Nan, cho dù gián tiếp có liên hệ tới nguồn nước sông Mekong nhưng chánh phủ Thái ở một vị trí đầy quyền hạn do hai con sông phụ lưu  Kok và Ing hoàn toàn nằm trong lănh thổ Thái. 

 

Một điều đáng ghi nhận ở đây, Thái Lan là một nước tương đối có dân chủ, dân trí cao nên tiếng nói của dân chúng địa phương rất mạnh, đă khiến chánh phủ Thái phải quan tâm và lắng nghe. Nhưng rồi ra tiếng nói quyền lực cuối cùng vẫn là của tập đoàn tư bản và quân phiệt Thái và cả hai kế hoạch chuyển nước của Thái Lan từ sông Mekong đang từng bước trở thành hiện thực.

 

 SÔNG MEKONG VÀ NGƯỜI VIỆT ĐÔI  BỜ

 

Trước khi nói có thể làm ǵ đối với hiểm họa Trung Quốc ngăn sông, Thái Lan chuyển ḍng sông Mekong th́ người dân Việt bên trong cũng như ngoài nước cần có được thông tin đầy đủ về những ǵ đang diễn ra. Không thể thụ động chờ Trung Quốc hay Thái Lan thông báo cho chúng ta những bước tai ương mà họ có sẽ  gây ra. Giới lănh đạo Việt Nam cần có một cái nh́n xa và chủ động trong kế hoạch theo dơi   thu lượm tin tức từ con sông Mekong.

 

Trong một bài viết về Đại Học Cần Thơ [Đi Tới, 7-8 / 2002], người viết đă đề nghị sớm thiết lập một Phân Khoa Sông Mekong tại Viện Đại Học Cần Thơ. Đó sẽ là một trung tâm giảng dạy và nghiên cứu về con sông Mekong, không phải chỉ riêng cho Việt Nam mà cho cả 6 quốc gia trong lưu vực, nhằm đào tạo những chuyên viên có tŕnh độ sẵn sàng đương đầu với những vấn nạn về Khai Thác Phát Triển trong toàn lưu vực.  Các Ṭa Đại Sứ, Lănh Sự  quán của Việt Nam, nơi có con sông Mekong chảy qua, cần có ngay những Tùy Viên Môi Sinh hay cụ thể hơn là một Tùy Viên Đặc Trách Sông Mekong, họ là những người có tŕnh độ và tinh thần xung kích, ráo riết theo dơi những biến chuyển của từng khúc sông Mekong để kịp thời thông tin và báo động, trên cơ sở đó Việt Nam mới có thể lên tiếng khuyến cáo đối với nhà cầm quyền Trung Quốc  hay Thái Lan và nhất là t́m ra những biện pháp thích nghi để sống c̣n.

 

Do nhu cầu phát triển của mỗi quốc gia, không thể nói tới việc cấm đoán hay  ngăn chặn các kế hoạch khai thác nguồn tài nguyên của con sông Mekong. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là khai thác ra sao để không mau chóng làm cạn kiệt nguồn  tài nguyên và cả phá hủy ḍng sông gây tác hại tới đời sống của hàng trăm triệu cư dân sống trong  lưu vực và cả gây di lụy lâu dài cho các thế hệ mai sau.

 

Nh́n về  ĐBSCL, tuy là “vựa lúa” cung cấp hơn 50% lương thực cho cả nước nhưng 9 triệu người dân Nam Bộ ấy lại đang phải cam chịu một nền giáo dục thấp nhất nước,  hoàn toàn thiếu thông tin, nên hầu như không thể nào có tiếng nói. 

Thêm một nghịch lư nữa, Ủy Hội Quốc Gia Mekong Việt Nam_ một cơ quan đầu năo, có một vai tṛ xung kích, được xem như  bộ tham mưu tiền phương, thay v́ trụ sở đặt ngay nơi ĐBSCL, tiếp cận với hai Đại Học Cần Thơ và An Giang, để thực hiện chức năng ngọn đuốc chỉ đường cho phát triển và thăng tiến môi trường lưu vực sông Mekong, th́ trụ sở  ấy hiện nay lại nằm ở một nơi rất xa cách, trên phố Hàng Tre của Hà Nội thuộc châu thổ sông Hồng.

 

Sự hủy hoại con sông Mekong là một quá tŕnh tích lũy lâu dài / cumulative late-effects nhưng không phải là không cảm nhận được trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ. Chúng ta có thể thấy trước được một hệ quả dây chuyền trong tương lai, mỗi ngày một trầm trọng hơn: mùa mưa lụt sẽ đổ xuống sớm và khủng khiếp hơn, mùa khô sẽ có hạn hán khắc nghiệt hơn, nước mặn xâm nhập ngày một sâu hơn vào ĐBSCL. Không c̣n nguồn nước ngọt, không c̣n nguồn phù sa, sẽ chẳng c̣n giống lúa hay cây trái nào sống được trên vùng biển mặn chưa kể nguồn ô nhiễm từ các khu kỹ nghệ thượng nguồn đổ xuống.

Cứu lấy ḍng sông Cửu Long là một cuộc chạy đua với kim đồng hồ, bởi v́ “Nói tới nguy cơ là c̣n thời gian, chứ tiêu vong là mất đi vĩnh viễn” / Extinction is forever, Endangered means we still have time. (Sea World San Diego)

 

NGÔ THẾ VINH

10/2005

 

 

 

 

 

 

Tham khảo:

1/ Feasibility of Augmenting Water-Resources through Seeding of Clouds                                      

_ Qamar-uz-Zaman & Anjum Bari

2/ Rainmaking Efforts Ease Drought

_ AFP, Bangkok, Apr 15, 2005

3/ Thailand Diverting Water from the Mekong River to Ease Drought

_ AFP, Cha-Am, Thailand, Mar 13, 2005

4/ Mekong Watch: Japanese ODA to Thailand, FY 2001

_ Kok-Ing-Nan Water Diversion Project

5/ Kok-Ing-Nan Project, Local Involment on Water Diversion

_ Ploenpote Atthakor,  SEA-User.org/news

6/ The Mekong, Turbulent Past, Uncertain Future

_ Milton Osborne, Atlantic Monthly Press, New York 2000, p 246

7/ The Mekong, Environment and Development

_ Hiroshi Hori, United Nations University Press, Tokyo 2000, p 341

8/ Statement on Cooperation for the Sustainable Development of the MRB.

 _ Thai NGOs on Mekong Agreement, 4 April 1995, Chiang Rai, Thailand.

9/ A Gathering of Mekong Spirits _ News & Updates

_ Watershed, Vol. 8 No 2, Nov 2002-Feb 2003, pp.4-5

10/  Murray-Darling Basin

<http://www.deh.gov.au/water/basins/murray-darling.html>