TRUNG QUỐC NGĂN
SÔNG - THÁI LAN
CHUYỂN D̉NG CON SÔNG -
Chẳng biết một
trăm năm sau
Có c̣n không Đồng Bằng Sông
Cửu Long
Và
một
nền Văn Minh Miệt Vườn
ĐỊA LƯ THÁI
LAN
Với diện tích hơn
500,000 km2, lớn hơn Việt Nam, gần bằng
nước Pháp, dân số 60 triệu, tăng 1.5 % mỗi
năm, tiếp giáp với 4 nước: Miến
Điện, Lào, Cam Bốt và Mă Lai. Con sông
- Vùng Trung Thái là châu thổ
của con sông lớn Chao Phraya nhiều phụ lưu,
với những cánh đồng ph́ nhiêu, được
mệnh danh là vựa lúa của Thái, khiến quốc gia này
trở thành nước
xuất cảng lúa gạo lớn nhất thế giới.
- Vùng Bắc Thái có diện
tích rộng lớn nhất, nguyên là vùng núi non với
những thung lũng hẹp. Chiang Mai là thị trấn phía
bắc chỉ lớn thứ hai sau
- Vùng Đông-Bắc c̣n
được gọi là cao nguyên Khorat hay Isan, lớn
thứ hai, với văn hóa ngôn ngữ gần với
người Lào. Nguyên là vùng nghèo hẻo lánh cho tới những
năm 60, để đáp ứng với cường
độ chiến tranh gia tăng tại Việt Nam và
cũng để ngăn chặn xâm nhập của
cộng sản vào đất Thái, Mỹ đă ồ ạt
đổ tiền vào phát triển cao nguyên Isan, mở mang
hệ thống xa lộ tối tân, xây phi trường quân
sự chiến lược. Mỹ cũng tích cực giúp
Thái xây hai con đập thủy điện Nam Pong và Nam
Pung, nhằm điện khí hóa nông thôn, cải thiện
dẫn thủy khiến mức nông sản gia tăng
vượt mức.
- Vùng Nam trải dài
xuống tới Mă Lai, với những băi biển
đẹp hấp dẫn đông đảo du khách
ngoại quốc; cư dân đa số là người
gốc Mă Lai, người Chăm theo đạo Hồi,
sống bằng trồng cây cao su kỹ nghệ. Thái hiện đang phải đương
đầu với những bất ổn trong các khu vực
người Hồi giáo.
Khí hậu mưa nắng
hai mùa: mùa Mưa từ tháng 6 tới tháng 10, mùa Khô từ
tháng 11 tới tháng 5; với 3
tháng cực nóng là từ tháng 3 tới tháng 5, có khi trên 40
độ C.
Là quốc gia duy nhất
ở Đông Nam Á không bị ách đô hộ của
thực dân Anh Pháp vào thế kỷ 19, lại thoát khỏi
nửa thế kỷ chiến tranh, được hưởng
lợi từ cuộc chiến tranh Việt Nam, phải nói
rằng như một phép lạ, thập niên 80 như
một phép lạ, là thời kỳ phát triển huy hoàng
nhất của Thái Lan: đứng đầu thế
giới về xuất cảng lúa gạo, sản
lượng tăng 600% so với diện tích canh tác chỉ
tăng 68%, chưa kể số ngoại tệ thu về
c̣n cao hơn trong lănh vực du lịch với hơn 10
triệu du khách / năm. Phát triển nhanh nhưng không
bền vững, khoảng cách giàu nghèo trong xă hội Thái Lan ngày càng đậm nét.
MỘT ĐẤT
NƯỚC LUÔN KHÔ HẠN
Từ thập niên 90s, Thái Lan đă
phải thường xuyên đối đầu với
nạn thiếu nước. Do thiếu mưa, mực
nước trong các hồ chứa cũng là đập
thủy điện, xuống thấp chỉ c̣n 1/3. Hai con
đập lớn : một mang tên hoàng
hậu Sirikit trên sông Nan và một mang tên vua Bhumibol trên sông
Bao nhiêu giả thiết
được đưa ra như
nạn phá rừng [từ 70% diện tích nay chỉ c̣n
20%], mức gia tăng diện tích trồng trọt, nhu
cầu tăng nước cho các khu kỹ nghệ và đô
thị; phải kể cả việc nông dân sử dụng
phí phạm nguồn nước, hay việc phân phối cung
cấp nước không
hợp lư...
Thái đă xây rất
nhiều những con đập lớn đa năng
[multi-purpose projects] với nguồn nước vừa dùng để
chạy các turbine nhà máy thủy điện, vừa dùng cho
thủy lợi canh nông. EGAT
[Electricity-Generating Authority of Thailand] đă ưu tiên sử dụng
nước theo nhu cầu điện năng của các khu
kỹ nghệ và gia cư nên đă lăng phí nước
trong hồ chứa ngay cả trong mùa khô.
Các biện pháp giải
quyết như khẩu phần hóa lượng nước
dùng trong kỹ nghệ và gia dụng, bán nước cho nông
gia khiến họ phải tiết kiệm, khuyến khích
trồng loại nông sản ít cần nước...
Nhưng trong thực tế các biện pháp ấy chỉ có
giá trị trên lư thuyết nên cuối cùng giải pháp luôn
luôn hấp dẫn vẫn là hoặc [1] xây thêm đập hoặc [2]
chuyển ḍng sông
[1]
Xây Thêm
Đập. Thái Lan là quốc gia đầu tiên trong
lưu vực sông Mekong đă tận dụng xây các
đập thủy điện và những hồ chứa
trên khắp lănh thổ Thái [hơn 40 con đập]
đến mức không c̣n nơi chốn khả thi
để xây thêm đập mà không phá hủy nghiêm trọng
môi sinh và gây ảnh hưởng tiêu cực trên đời
sống của cư dân địa phương.
Ngay cả với những
con đập hiện có đă chẳng phải là một
toan tính khôn ngoan của Thái Lan, v́ các đập xây xong không
có đủ nước cho hồ chứa, do lượng
mưa thấp lại thêm hiện tượng nước
nhỉ thoát qua ḷng đập đá vôi [limestone bed] đă
khiến cho những con đập nổi tiếng như
Bhumibol hoàn tất 1964 và con đập Sirikit, cho tới nay
chưa bao giờ đủ nước để trữ
đầy. T́nh cảnh cũng không khá ǵ hơn ngay
với con đập Shrinakanin lớn nhất trên cao
nguyên Isan hoàn tất từ 1977.
[2] Chuyển Ḍng Sông
Và hiển nhiên, giải pháp
đầy hứa hẹn là Thái hướng về khai thác
nguồn nước của con sông
Chuyển ḍng lấy
nước từ con sông Mekong, đối với Thái Lan là
biện pháp khả thi với cái giá môi sinh có thể chấp
nhận được; nhưng c̣n đối với các
quốc gia láng giềng th́ sao?
Hiện chưa có được một
lượng giá ảnh hưởng môi sinh khả dĩ có
thể tin cậy được nhưng đó không
phải là mối ưu tư hàng đầu của chánh
phủ Thái.
Không phải chỉ riêng
Thái Lan thiếu nước mà đó là
t́nh trạng khủng hoảng chung của 6 quốc gia trong
lưu vực. Ví dụ chỉ riêng với Việt Nam,
ĐBSCL với 2.4 triệu hecta là vùng sản xuất lúa
gạo và thủy sản, cung cấp 50% lượng
thực phẩm cho cả nước. Nếu không
đủ nước trong mùa khô th́ sẽ có tới 2 triệu hecta đất trồng
trọt bị ngập mặn, sẽ là một thảm
họa không những cho mùa màng mà c̣n trên toàn hệ sinh thái
vùng châu thổ, ảnh hưởng ngay trên chén cơm
vơi đầy của mỗi người dân Việt. Nạn nhiễm mặn không chỉ giới
hạn trong vùng ĐBSCL mà c̣n có thể lấn sâu và tiến
xa lên tới tận Nam Vang.
TỪ CẦU
ĐẢO TỚI
HÔ PHONG HOÁN VŨ:
Từ buổi hoang sơ cho tới
thế kỷ 20, khi con người đă vượt ra khỏi trọng lực trái
đất, đặt chân lên mặt trăng, th́ chuyện
có mưa hay không vẫn cứ măi là vấn đề sinh
tử đối với nông gia trên hành tinh này.
Ở một thời
kỳ chưa hẳn đă quá xa, khi bị hạn hán, để cầu
mưa người ta đă phải giết trâu giết
cừu để tế
lễ; theo truyền thuyết từ Trung Hoa, có nơi dân làng c̣n t́m
chọn các cô gái đẹp đồng trinh đem thả
trôi sông để dâng cúng thủy thần, với niềm
tin rằng thần động ḷng mà ban cho những cơn
mưa cứu hạn.
Ngày nay, vẫn không
thiếu những nông dân Thái cúng quải cầu mưa,
nhưng ít nhất từ hơn ba thập niên qua, Thái Lan
đă là một trong những quốc gia tiên phong ở Á châu
[cùng với Trung Quốc, Hồi Quốc... ]
biết áp dụng kỹ thuật cấy-mây/
clouds-seeding làm ra mưa nhân tạo để cấp cứu
những vùng đồng ruộng bị khô hạn.
Cơ quan Hàng Không Canh Nông
Thái với
hơn 600 nhân viên và 45 máy bay, với ngân khoản
lên tới 25 triệu Mỹ kim/ năm, dưới sự
điều động trực tiếp của vua Bhumibol
cũng là người đă có bằng về kỹ
thuật mưa nhân tạo, đă vận dụng khoa
học kỹ thuật, nhằm đối phó tức
thời với t́nh trạng hạn hán do chu kỳ mưa
nắng càng ngày càng trở nên thất thường ở
Thái.
Những chiếc phi cơ cánh quạt hàng không Thái với phi
hành đoàn 7 người, mang theo những thùng hóa chất
như silver iodine hay muối hoặc nước đá
khô, bay tới những cánh
đồng lúa đang bị khô hạn; lên tới cao
độ 3,000 m, phi cơ bay thẳng vào những đám
mây, rải hóa chất, với
tác dụng kết tụ những hạt hơi
nước rất nhỏ thành những giọt mưa và
tiếp đó là một cơn mưa nhân tạo. Kỹ
thuật ngoạn mục này có những hạn chế, tác dụng trên
quy mô nhỏ, và chỉ có
thể thành công khi các đám mây có độ ẩm cao trên
60%. (2)
Và hiển nhiên, với
một đất nước Thái Lan
đang khát nước khủng khiếp, giải pháp
hữu hiệu và lâu dài vẫn là chuyển ḍng lấy
nước từ con sông
DỰ ÁN MỘT: KONG-CHI-MUN ĐÔNG BẮC THÁI
Từ 1992, chánh phủ Thái
đă tiết lộ Kế hoạch Dẫn thủy KCM
[Kong-Chi-Mun Irrigation Project] chuyển ḍng lấy nước
trực tiếp từ sông
Nguồn nước
được lấy từ khúc sông Mekong gần Nong Khai,
chuyển về 2 con sông Chi và sông Mun qua một hệ
thống ống dẫn / aqueduct khổng lồ dài 200 km. Nước sông
Mekong sẽ được dùng
cho việc cứu hạn những cánh đồng lúa
nằm trong lưu vực hai con sông này. Dự tính ban
đầu là chỉ lấy nước sông Mekong trong mùa
mưa, nhưng sau đó Thái Lan quyết định lấy
nước cả trong mùa khô với lưu lượng
chuyển ḍng lên tới 300 m 3/ giây [trên lưu lượng
1600 m3/ giây mùa khô / ĐBSCL hiện nay] (7)
[Tưởng cũng nên
mở một dấu ngoặc ở đây, năm 1994 Thái
hoàn tất con đập Pak Mun, trên sông Mun, một phụ
lưu của con sông Mekong và đă gây rất nhiều tranh
căi].
Giai đoạn I của
dự án KCM đă được chánh phủ Thái Lan thông qua
cho dù bị chính nhóm chuyên viên Thái cho rằng tổn phí
th́ quá cao và sự lượng
giá ảnh hưởng môi sinh EIA [Environmental Impact Assessment]
c̣n quá thiếu sót.
Ai cũng biết rằng
dự án chuyển nước KCM thuộc trách nhiệm
của Cục Thăng Tiến Năng Lượng và Phát
Triển [Department of Energy Promotion and Development] trực
thuộc Bộ Khoa Học, Kỹ Thuật và Môi
Trường Hoàng gia Thái_ chính
Bộ này có trách nhiệm thực thi các luật lệ
về môi trường của chánh phủ Thái Lan. Ngay
từ giai đoạn I của dự án KCM đă đưa
tới hủy hoại các khu rừng lũ [flooded forest], tăng nhiễm
mặn các vùng trồng trọt Đông Bắc Thái, đă
ảnh hưởng trực tiếp đời sống
cư dân địa phương. (8)
Kế hoạch KCM, hiển
nhiên đe dọa nghiêm trọng trên ḍng chảy sông Mekong,
nên rất sớm và tức thời từ 1992, chánh phủ
Việt Nam đă chính thức lên tiếng phản kháng
mạnh mẽ, yêu cầu Thái Lan phải hủy bỏ
kế hoạch, v́ hậu quả nhiễm mặn nơi
ĐBSCL sẽ trầm trọng hơn nữa, nhất là
trong mùa khô. Ngay cả Lào cũng bày tỏ mối quan
ngại, v́ với kế hoạch chuyển ḍng 300 m 3/ giây
sẽ khiến con sông cạn
ḍng gây trở ngại giao thông
trên sông Mekong vốn như một xa lộ nâu huyết
mạch của người dân Lào. Bộ trưởng Môi
sinh Cam Bốt,
tiến sĩ Mak Moreth đă bày tỏ mối quan
ngại về hậu quả nghiêm trọng do dự án
chuyển nước của Thái Lan càng làm suy giảm ḍng
chảy con sông
V́ những khác biệt
giữa Thái Lan và Việt Nam ở giai đoạn ấy
hầu như không ḥa giải
được khiến
Ủy Ban Mekong Lâm Thời hầu như tê liệt; sự kiện này
đă đưa tới việc cưỡng bách từ
nhiệm của Chuck Lankester, lúc đó đang là Tổng
thư kư.
TỪ KONG-CHI-MUN
THÁI LAN TỚI
MURRAY-DARLING ÚC CHÂU
Theo các chuyên gia, th́ có
nhiều nét tương đồng giữa lưu vực
hai con sông Chi-Mun ở Thái và lưu vực hai con sông
Murray-Darling ở Úc.
Murray-Darling là một trong
những lưu vực lớn nhất của Úc, bao trùm 4
bang: New South Wales, Victoria, South Australia và Queensland, diện tích
hơn 1 triệu km2 với 3
con sông lớn nhất của Úc: sông Darling 2740 km, sông Murray
2530 km và sông Murrumbidgee 1690 km.
Các cơ chế quản lư
các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường thuộc
lưu vực Murray-Darling đă có từ 1992, sau đó là
những điều khoản bảo vệ môi
trường và đa dạng sinh thái có từ 1999, nhưng
toàn hệ sinh thái Murray-Darling đă bị sút giảm nghiêm
trọng do tác động của con người qua
những kế hoạch chuyển ḍng, chuyển
nước, khai quang và gây nhiễm mặn đất. (10)
Đă có hai hội nghị
về Đối Thoại Mekong / Mekong Dialogue. Hội
nghị đầu tiên Thành phần Úc châu họp ở
Mục đích chính của
cả hai hội nghị nhằm khuyến khích sự tham
gia của xă hội công dân trong thảo luận về
những thuận-và- nghịch trong Dự án KCM của Thái
Lan đối với toàn lưu vực
Tiến sĩ Prathet
Sutrabutra, nguyên giám đốc Cục Phát Triển Năng
Lượng và Thăng Tiến và cũng là thành viên Ủy
Ban Quốc Gia Sông Mekong Thái Lan trong hơn 10 năm qua, phát
biểu rằng ông tin là có rất nhiều điểm tương
đồng giữa lưu vực sông KCM [Thái] và Murray-Darling
[Úc], đó là lư do khởi đầu cho một kế
hoạch hiệp đồng [Joint project] giữa Ủy
Hội Sông Mekong và Ủy Hội Lưu Vực Murray Darling.
Sutrabutra thay v́ có
được tiếng nói hỗ trợ từ phái đoàn Úc, nhưng
ngược lại, chính tiến sĩ Angela Artington, thuộc đại
học Griffith từ Úc châu,
đă bày tỏ mối quan ngại cho rằng những ảnh hưởng môi
sinh nghiêm trọng đă xảy ra cho lưu vực
Murray-Darling, cũng sẽ rất sớm xảy ra cho
lưu vực sông Mekong, do hậu quả của những
dự án làm thay đổi ḍng chảy thiên nhiên của các
con sông trong lưu vực sông Mekong.
Những so sánh đối
chiếu các kinh nghiệm của Murray-Darling và KCM đă gây được rất
nhiều chú ư của các thành viên tham dự hội nghị
Ubon Ratchatani và nơi đó tiếng nói của người
dân địa phương Thái Lan đă được
lắng nghe. (9)
DỰ ÁN HAI: KOK-ING-NAN BẮC THÁI
Từ 1994, chánh phủ Thái Lan đă nói
tới một dự án lớn thứ hai: Dự án Kok-Ing-Nan, gián tiếp lấy nước
từ hai phụ lưu
lớn của con sông Mekong là sông Kok và sông Ing ở vùng Chiang
Rai bắc Thái. (5)
Cơ quan Hợp tác
Quốc Tế Nhật Bản JICA (Japan International Cooperation
Agency), đă
cung cấp ngân khoản và chuyên viên để nghiên cứu
tính khả thi của công tŕnh, và cuộc khảo sát này
đă hoàn tất vào tháng 11 năm 1999.
Phải nói đây là một
dự án có quy mô rất lớn và táo bạo tổn phí lên
tới 1.5 tỉ Mỹ kim, nhằm chuyển ḍng
nước từ hai phụ lưu sông Mekong, cho chảy qua
những
đường hầm / tunnels khổng lồ
dài hơn 100 km để chuyển nước từ 2 con sông Kok và sông Ing vào sông Nan_ là
một phụ lưu của sông Chao Phraya.
Sông Chao Phraya, như
mạch sống của người dân Thái đang bị
cạn ḍng và cả nhiễm mặn ngày càng thêm trầm
trọng.
Lượng nước từ hai con sông phụ lưu Kok
và Ing cũng sẽ được tiếp cho con
đập Sirikit, lớn thứ ba nhưng quanh năm
thiếu nước. Nước từ hồ chứa
Sirikit không chỉ nhằm cung cấp nước
tưới cho những cánh đồng bao la vùng châu thổ
Chao Phraya đang bị khô hạn, mà cả cung ứng
nước cho các khu kỹ nghệ và 10 triệu dân đang
sống ở thủ đô Bangkok. (4,5)
Khi công tŕnh hoàn tất, Thái Lan có khả
năng chuyển 2,200 triệu mét khối nước/
năm [2,200 MCM] gián tiếp lấy nguồn nước
của con sông
Đă có những e ngại
ngay tại Thái Lan về phương diện kỹ
thuật, về ảnh hưởng xă hội và môi sinh
như làm sao để vận chuyện và sử lư khối
lượng đất khổng lồ lấy ra từ những
con đường hầm; rồi t́nh trạng giảm
lưu lượng nước trên hai con sông Kok và sông Ink
sẽ ảnh hưởng trên cư dân địa
phương ra sao; c̣n phải kể tới nạn lũ
lụt dây chuyền có thể gây ra trên sông Nan.
Đă có nhiều ư kiến
chỉ trích về sự thiển
cận của kế hoạch khi nhằm giải quyết
nạn thiếu nước của con sông lớn Chao Phraya,
mà không nghĩ tới những hệ quả lâu dài trên toàn lưu vực sông Mekong.
Việc so sánh dự án KCM
với dự án Murray-Darling của Úc là không thích đáng
bởi v́ KCM liên hệ tới con sông Mekong như một con
sông quốc tế thuộc 6 quốc gia trong khi Murray-Darling
là những con sông hoàn toàn nằm trong nội địa
nước Úc.
Riêng đối với
dự án Kok-Ing-Nan,
cho dù gián tiếp có liên hệ tới nguồn nước
sông
Một điều đáng
ghi nhận ở đây, Thái Lan là một nước
tương đối có dân chủ, dân trí cao nên tiếng
nói của dân chúng địa phương rất mạnh,
đă khiến chánh phủ Thái phải quan tâm và lắng
nghe. Nhưng rồi ra tiếng nói quyền lực cuối
cùng vẫn là của tập đoàn tư bản và quân
phiệt Thái và cả hai kế hoạch chuyển
nước của Thái Lan từ sông
SÔNG
Trước khi nói có thể
làm ǵ đối với hiểm họa Trung Quốc ngăn
sông, Thái Lan chuyển ḍng sông Mekong th́ người dân
Việt bên trong cũng như ngoài nước cần có
được thông tin đầy đủ về
những ǵ đang diễn ra. Không thể thụ
động chờ Trung Quốc hay Thái Lan thông báo cho chúng ta
những bước tai ương mà họ có sẽ gây ra.
Giới lănh đạo Việt
Trong một bài viết
về Đại Học Cần Thơ [Đi Tới, 7-8 /
2002], người viết đă đề nghị sớm
thiết lập một Phân Khoa Sông Mekong tại Viện
Đại Học Cần Thơ. Đó sẽ là một
trung tâm giảng dạy và nghiên cứu về con sông Mekong,
không phải chỉ riêng cho Việt Nam mà cho cả 6
quốc gia trong lưu vực, nhằm đào tạo
những chuyên viên có tŕnh độ sẵn sàng
đương đầu với những vấn nạn
về Khai Thác Phát Triển trong toàn lưu vực. Các Ṭa Đại Sứ, Lănh
Sự quán của Việt Nam,
nơi có con sông Mekong chảy qua, cần có ngay những Tùy
Viên Môi Sinh hay cụ thể hơn là một Tùy Viên
Đặc Trách Sông Mekong, họ là những người có
tŕnh độ và tinh thần xung kích, ráo riết theo dơi
những biến chuyển của từng khúc sông Mekong
để kịp thời thông tin và báo động, trên
cơ sở đó Việt Nam mới có thể lên tiếng
khuyến cáo đối với nhà cầm quyền Trung
Quốc hay Thái Lan và nhất là
t́m ra những biện pháp thích nghi để sống c̣n.
Do nhu cầu phát triển
của mỗi quốc gia, không thể nói tới việc
cấm đoán hay
ngăn chặn các kế hoạch khai thác
nguồn tài nguyên của con sông
Nh́n về ĐBSCL, tuy là vựa lúa
cung cấp hơn 50% lương thực cho cả
nước nhưng 9 triệu người dân Nam Bộ
ấy lại đang phải cam chịu một nền giáo
dục thấp nhất nước, hoàn toàn thiếu thông tin, nên
hầu như không thể nào có tiếng nói.
Thêm một nghịch lư
nữa, Ủy Hội Quốc Gia Mekong Việt Nam_ một
cơ quan đầu năo, có một vai tṛ xung kích,
được xem như
bộ tham mưu tiền phương, thay v́ trụ
sở đặt ngay nơi ĐBSCL, tiếp cận
với hai Đại Học Cần Thơ và An Giang,
để thực hiện chức năng ngọn
đuốc chỉ đường cho phát triển và
thăng tiến môi trường lưu vực sông Mekong, th́
trụ sở ấy hiện
nay lại nằm ở một nơi rất xa cách, trên
phố Hàng Tre của Hà Nội thuộc châu thổ sông
Hồng.
Sự hủy hoại con
sông
Cứu lấy ḍng sông
Cửu Long là một cuộc chạy đua với kim đồng hồ, bởi v́ “Nói tới
nguy cơ là c̣n thời gian, chứ tiêu vong là mất đi
vĩnh viễn” / Extinction is forever, Endangered means we still have
time. (Sea World
NGÔ THẾ VINH
10/2005
Tham khảo:
1/ Feasibility of Augmenting
Water-Resources through Seeding of Clouds
_ Qamar-uz-Zaman & Anjum
2/ Rainmaking Efforts Ease Drought
_ AFP,
3/
_ AFP,
4/ Mekong Watch: Japanese ODA to
_ Kok-Ing-Nan Water Diversion
Project
5/ Kok-Ing-Nan Project, Local
Involment on Water Diversion
_ Ploenpote Atthakor, SEA-User.org/news
6/ The
_ Milton Osborne, Atlantic Monthly
Press, New York 2000, p 246
7/ The
_ Hiroshi Hori, United
8/ Statement on
Cooperation for the Sustainable Development of the MRB.
_ Thai NGOs on Mekong
Agreement, 4 April 1995,
9/ A
Gathering of
_ Watershed, Vol. 8 No 2, Nov
2002-Feb 2003, pp.4-5
10/
<http://www.deh.gov.au/water/basins/murray-darling.html>