NGÓT NỬA THẾ KỶ TỪ ỦY BAN SÔNG MEKONG TỚI TUYÊN NGÔN CÔN MINH [1957 - 2005] 

Ngô Thế Vinh.

 

THAY LỜI DẪN NHẬP

 

MỘT_  Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên Cứu Nhiệt Đới Smithsonian (Mỹ) đă phát biểu: “Xây các đập thủy điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết ḍng sông. Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại,  khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử  và các con sông lớn khác của Trung Quốc. (9)

 

HAI_ Thủ Tướng Hunsen trước khi sang dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Côn Minh, đă tỏ ra thỏa măn với t́nh h́nh khai thác con sông Mekong như hiện nay, theo ông chẳng có vấn đề ǵ phải quan tâm.  Ông công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh, đối với kế hoạch khai thác sông Mekong, ông c̣n cho rằng các ư kiến chỉ trích chỉ để chứng tỏ  họ chú ư tới môi sinh, và đôi khi họ dùng đó như thứ rào cản nhằm ngăn sự hợp tác nên có giữa 6 quốc gia.(4)

 

TỪ ỦY BAN SÔNG MEKONG 1957-1976

 

Từ những thập niên 40s, các nhà xây đập Mỹ đă quan tâm tới tiềm năng thủy điện của con sông Mekong.  Năm 1957, giữa thời kỳ chiến tranh lạnh, với bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là Mỹ, một Ủy Ban Sông Mekong [Mekong River Committee] được thành lập bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Cam Bốt  và Nam Việt Nam và một văn pḥng thường trực  đặt tại Bangkok; với kế hoạch phát triển toàn diện vùng Hạ Lưu sông Mekong nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong lưu vực. Có một điều lệ gần như cơ bản của Ủy Ban Sông Mekong để phân biệt với Ủy Hội Sông Mekong [Mekong River Commission] sau này, là quyền phủ quyết. Không một quốc gia thành viên nào có thể thực hiện dự án liên hệ tới con sông Mekong nếu không được sự đồng thuận của các quốc gia thành viên khác.

 

Tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây, cho dù có một nửa chiều dài sông Mekong chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó c̣n là một quốc gia khép kín và  ít được nhắc tới.

 

Nhưng rồi, Chiến Tranh Việt Nam đă lan rộng ra cả ba nước Đông Dương qua hơn ba thập niên, [Thái Lan tuy không trực tiếp tham chiến nhưng cũng đă là một hậu cần của Mỹ trong suốt cuộc chiến], nên kế hoạch xây dựng các đập thủy điện lớn chắn ngang sông Mekong vùng Hạ Lưu và các chương tŕnh khai thác khác đă phải gián đoạn, khiến cho con sông Mekong c̣n giữ được vẻ hoang dă và cả sự nguyên vẹn thêm một thời gian nữa.

 

TỚI ỦY BAN MEKONG LÂM THỜI 1978 - 1992 

 

Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, nhưng vẫn c̣n một cuộc chiến tranh diệt chủng diễn ra trên Xứ  Chùa Tháp. Không có Cam Bốt, một Ủy Ban Mekong Lâm Thời [Mekong Interim Committee] được thành lập năm 1978 với hoạt động hạn chế. Cũng trong thời gian này, Thái Lan có kế hoạch chuyển ḍng sông Mekong nhằm đưa một lượng nước lớn bơm tưới cho cả một vùng đông bắc Thái Lan khô hạn. Đó là một dự án của riêng Thái Lan, không có trong kế hoạch ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong. Gặp sự chống đối của Việt Nam,  Thái Lan đi tới phủ nhận tính cách pháp lư của Ủy Ban Sông Mekong, viện lư do là tổ chức này đă không c̣n phù hợp với những thay đổi về chánh trị, kinh tế và xă hội trong vùng. Trong điều kiện  phân hóa như vậy, Ủy Ban Lâm Thời Mekong hầu như bị tê liệt.

 

TỚI ỦY HỘI SÔNG MEKONG 1995-2005

 

Bước vào thời b́nh với nhu cầu phát triển, con sông Mekong đă trở thành mục tiêu khai thác của 6 quốc gia trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong [GMS / Greater Mekong Subregion]. Cùng là những nước ven sông nhưng mỗi quốc gia lại có những ưu tiên về phát triển khác nhau với những quyền lợi  mâu thuẫn. Do đó, phục hồi một tổ chức điều hợp liên quốc gia tương tự như Ủy Ban Sông Mekong trước đây là cần thiết.

 

Ngày 05 tháng 04 năm 1995, 4 nước hội viên gốc của Ủy Ban Sông Mekong  đă họp tại Chiang Rai, Thái Lan cùng kư kết một “Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Hạ Lưu Sông Mekong” và đổi sang một tên mới là Ủy Hội Sông Mekong với một thay đổi cơ bản trong Hiệp Ước mới này - thay v́ như trước đây trong Ủy Ban Sông Mekong, mỗi hội viên có quyền phủ quyết bất cứ một dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới ḍng chính sông Mekong - th́ nay, theo nội quy mới không cho một thành viên nào có quyền như vậy và trong ngôn từ để chuẩn y các dự án cũng rất là mơ hồ như  chỉ qua thông báo và tham khảo.

 

Có thể nói Ủy Hội Sông Mekong là “biến thể và xuống cấp” của Ủy Ban Sông Mekong trước kia. Ủy Hội Sông Mekong gồm 3 cơ cấu:

_ Hội Đồng Đại Diện [cấp bộ trưởng]

_ Ủy Ban Hỗn Hợp

_ Văn Pḥng Thường Trực

Nay có văn pḥng đặt tại Vạn Tượng. Khác với tham vọng chiến lược ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong nhằm khai thác tiềm năng sông Mekong cho sự thịnh vượng chung của toàn lưu vực, mục tiêu của Ủy Hội Sông Mekong có phần khiêm tốn và thu hẹp hơn bao gồm (3)

 

BA CHƯƠNG TR̀NH N̉NG CỐT [core programmes]:

1/ Chương Tŕnh Sử Dụng Nước : h́nh thành một khuôn khổ yểm trợ thích nghi cho phát triển bền vững, các quy định sử dụng nước với một hệ thống theo dơi và quản trị; 

2/ Chương Tŕnh Phát Triển Lưu Vực: xác định những cơ hội phát triển liên quốc gia;

3/ Chương Tŕnh Môi Trường: xác định những thông tin căn bản về môi sinh để từ đó có thể  quyết định về những ưu tiên và mức độ thích hợp cho những khu vực để phát triển.

NĂM CHƯƠNG TR̀NH KHU VỰC [5 sector]: 1/ Canh Nông, 2/ Thủy Lâm, 3/ Ngư nghiệp, 4/ Giao Thông và 5/  Du lịch.

MỘT CHƯƠNG TR̀NH YỂM TRỢ  [Capacity Building Programme]

 

Ủy Hội Sông Mekong được bảo trợ bởi các tổ chức quốc tế, hội tư nhân, các viện nghiên cứu và tổ chức quốc gia với ngân khoản hàng năm khoảng 15 triệu Mỹ kim.

Ủy Hội Sông Mekong đă trải qua những bước khởi đầu chậm chạp do nhiều nguyên nhân như : việc di rời trụ sở từ Bangkok sang Nam Vang, một số thành viên có kinh nghiệm đă từ nhiệm v́ lư do an ninh ở Nam Vang, rồi sự  yếu kém trong quản trị,  các cơ quan bảo trợ tỏ ra thiếu tin tưởng vào Ủy Hội trước sự thờ ơ của các nước thành viên cũng như  thiếu mục tiêu rơ ràng lúc ban đầu.

 

Nhưng rồi từng bước, Văn Pḥng Thường Trực của Ủy Hội Sông Mekong đă được cải thiện, tạo dựng được một h́nh ảnh mới tích cực hơn, đón nhận được sự  tài trợ cũng lớn hơn, lên tới 28 triệu Mỹ kim năm 2000.

Ủy Hội đă hoàn tất được vài thành quả ban đầu như : đạt được thỏa thuận chia xẻ thông tin giữa 4 nước thành viên, thiết lập đưa vào sử dụng mạng lưới internet tiên đoán lũ lụt và theo dơi ḍng chảy mùa khô; và nhất là đạt được thỏa ước [kư kết tháng 4,  2002] có thể gọi là lịch sử  về trao đổi dữ kiện thủy văn [hydrological data exchange agreement] giữa Trung Quốc và Ủy Hội Sông Mekong.v.v. (7)

 

YẾU TỐ TRUNG QUỐC NHƯ MỘT NHÂN TAI

 

Qua thời kỳ chiến tranh lạnh, Trung Quốc đă thực sự mở cửa ra với thế giới bên ngoài. Không c̣n ảnh hưởng thống trị của Mỹ ở Đông Nam Á,  Trung Quốc nghiễm nhiên trở thành yếu tố mới năng động với ảnh hưởng bao trùm trên toàn Lưu Vực Lớn Sông Mekong [GMS].

 

Sự  thịnh vượng cho Lưu Vực là điều hứa hẹn nhưng chưa tới, và đă tới những hậu quả nhăn tiền của các bước khai thác tự hủy nguồn tài nguyên sông Mekong, ảnh hưởng trực tiếp tới 70 triệu dân cư sống trong lưu vực.

 

Trong mấy thập niên vừa qua, Trung Quốc đă ào ạt khai thác con sông Mekong, không ngừng xây thêm những con đập thủy điện khổng lồ ngang ḍng chính làm ảnh hưởng tới nguồn nước, nguồn cá, nguồn phù sa và cả gây ô nhiễm cho hạ nguồn.

Chưa bao giờ trong Mùa Khô, mực nước con sông Mekong lại có thể xuống thấp đến như  vậy từ ngày có những con đập Vân Nam [mới 3 trong dự án 14 đập]. Ở một số nơi có những khúc sông đă trơ đáy và hầu như  cạn ḍng. Nguồn cá và nông nghiệp đă trực tiếp bị ảnh hưởng. Không chỉ đơn giản v́  thiếu mưa, sự kiện sông Mekong cạn ḍng năm 1993 mà không vào mùa khô, trùng hợp với thời điểm Trung Quốc bắt đầu lấy nước vào con đập thủy điện đầu tiên Mạn Loan [Manwan] ngang ḍng chính sông Mekong trên Vân Nam.

 

Odd Bootha, 38 tuổi, anh lái đ̣ bến Chiang Khong Bắc Thái Lan, đă than thở : Nếu Trung Quốc cứ xây thêm đập th́ sông Mekong chỉ c̣n là một con lạch. T́nh cảm bài Trung Quốc rất mạnh ở vùng  Bắc Thái, chính dân làng đă công khai chống lại kế hoạch phá đá phá ghềnh thác khai thông sông Mekong của Trung Quốc.

 

Để có đủ nước vận hành 2 đập thủy điện Vân Nam, Trung Quốc đă thường xuyên đóng các cửa đập khiến mực nước sông đă xuống tới mức thấp nhất. Phía tả ngạn bên Lào, chỉ riêng trong tháng 3/2004 , tổ chức du lịch đă phải hủy bỏ 10 chuyến du ngoạn trên sông chỉ v́ những khúc sông quá cạn.  Chainarong Sretthachau, giám đốc Mạng Lưới Sông Đông Nam Á [Southeast Asia Rivers Network] cho rằng Trung Quốc đă có quyền lực để kiểm soát ḍng sông Mekong. (10)

 

Sự chối từ của Trung Quốc tham gia vào Ủy Hội Sông Mekong khiến tổ chức này trở nên vô nghĩa trong nỗ lực điều hợp khai thác và phát triển bền vững nguồn tài nguyên của con sông Mekong.

 

Do nhu cầu điện của Trung Quốc tăng 5-6% / năm, để đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế, trước viễn tượng nguồn dầu khí ngày càng cạn kiệt, Trung Quốc ngoài việc gia tăng tốc độ xây thêm các ḷ điện nguyên tử, từ 1 tới 2 ḷ mới mỗi năm, bất chấp mọi hậu quả (National Geographic, Aug 2005).

Đi xa hơn nữa, chỉ mới đây thôi, nếu không gặp sự chống đối mạnh mẽ từ các nhà lập pháp Mỹ ở  Hoa Thịnh Đốn, Công Ty Dầu Khí Nhà Nước Trung Quốc (CNOOC/ Chinese National Offshore Oil Corp.) đă thành công mua đứt  Unocal, công ty dầu khí lớn thứ hai của Mỹ với 18.5 tỉ Mỹ kim để sở hữu nguồn dầu khí chiến lược và cả khống chế quyền khai thác các trúi dầu trên toàn Biển Đông. [NY Times, Aug 3, 2005].

Với khát vọng vô hạn về năng lượng, rơ ràng không có dấu hiệu nào Trung Quốc sẽ dừng bước hay chậm lại kế hoạch khai thác nguồn thủy điện phong phú của con sông Mekong.

 

Nhận định về các kế hoạch khai thác sông Mekong của Trung Quốc, Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên Cứu Nhiệt Đới Smithsonian [Mỹ] đă phát biểu: Xây các đập thủy điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết ḍng sông... Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại,  khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử  và các con sông lớn khác của Trung Quốc. (9)

 

Như một điệp khúc, phía chánh quyền Trung Quốc lúc nào cũng khăng khăng với lập luận là ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam trên sông Mekong là không đáng kể và c̣n có lợi nữa. Các con đập sẽ tạo thuận cho chu kỳ lũ - hạn hàng năm, khai thông ḍng sông sẽ làm gia tăng trao đổi thương mại trong vùng và giúp giảm nghèo.

Deng Jiarong viên chức  phụ trách Mekong Sự vụ, vẫn lặp lại những khẩu hiệu như một điệp khúc trấn an: Phát triển sông Mekong là một quyết định chung của tất cả các quốc gia liên hệ. Sự tổn hại và ảnh hưởng tiêu cực là rất nhỏ so với những lợi ích của cộng đồng dân cư lớn hơn.

 

Nhưng cũng không thiếu tiếng nói chỉ trích ngay tại Trung Quốc như Xu Xiaogang, chuyên viên nghiên cứu hậu quả các con đập trên các cộng đồng người Hoa: Trên con sông quốc tế, không một quốc gia nào có thể vị kỷ. Họ phải quan tâm tới ảnh hưởng trên các quốc gia khác và trên con sông như một toàn thể. (9)

 

Công bằng mà nói, không phải tất cả suy thoái của con sông Mekong là đến từ Trung Quốc. Cũng phải kể tới phần ảnh hưởng cộng thêm vào từ  các con đập phụ lưu sông Mekong của Thái Lan, Lào và Việt Nam, càng làm suy thoái thêm toàn hệ sinh thái của ḍng sông. 

 

TỔNG THỐNG BUSH, MEKONG THÊM CẠN D̉NG

 

Tổ chức WWF / World Wide Fund đă đưa ra lời cảnh báo là hiện tượng Hâm Nóng Toàn cầu [Global Warming] đă khiến những khối băng trên rặng Hy Mă lạp Sơn mau chóng thu nhỏ lại, có thể gây ảnh hưởng thiếu hụt nước của hàng trăm triệu cư dân sống phụ thuộc vào những con sông có nguồn nước từ những khối băng tuyết này. Khối băng tuyết Hy Mă Lạp Sơn [chỉ đứng thứ hai sau Bắc Cực] đang bị thu nhỏ lại với vận tốc từ 10 tới 15 mét / năm. Với hậu quả ban đầu là gia tăng lưu lượng nước sông, nhưng theo Jennifer Morgan, giám đốc Chương Tŕnh Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu  [WWF for Nature's Global Climate Change Programme] th́ chỉ vài thập niên sau đó, t́nh h́nh sẽ đảo ngược. Khối băng tuyết Hy Mă Lạp Sơn cấp nguồn nước cho 7 con sông lớn của Châu Á [sông Hằng, sông Indus, sông Brahmaputra, sông Salween, sông Dương Tử, Hoàng Hà và sông Mekong] trong đó có con sông Mekong, mực nước các con sông sẽ xuống rất thấp. (6) 

WWF đă báo động tới nhóm các quốc gia kỹ nghệ G8  là: thế giới sẽ phải đương đầu với thảm họa về kinh tế và phát triển nếu mức độ hâm nóng toàn cầu không được giảm thiểu. Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, siêu cường kỹ nghệ Hoa Kỳ dưới triều đại Bush là nước duy nhất trong số 155 quốc gia từ chối kư tên vào Nghị Định Thư  Kyoto [Kyoto Protocol].  Không phải chỉ có Trung Quốc, chính sách môi sinh thiển cận của Tổng Thống Bush trong một tương lai xa, cũng đă góp phần khiến con sông Mekong thêm cạn ḍng.

 

GIẢI PHÁP NGẮN HẠN ĐỂ SỐNG C̉N

 

Với Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Ánh Nguyệt / RFI [12/2004] khi được hỏi về t́nh trạng nhiễm mặn ngày càng trầm trọng nơi  Đồng Bằng Sông Cửu Long [ĐBSCL] từ ngày Trung Quốc không ngừng tiến hành xây những con đập khổng lồ Vân Nam, Giáo sư  Vơ Ṭng Xuân một tên tuổi được biết tới trước 1975 như cha đẻ của giống lúa cao sản Thần Nông, đă phát biểu :  

 

“Nông dân ĐBSCL thích nghi nhanh, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp: bỏ hẳn giống lúa cổ truyền chuyển sang trồng lúa cao sản, nên chủ động tránh được lũ cũng như hạn hán. Ở những vùng bị nhiễm mặn, vùng nước lợ, thay v́ trồng lúa th́ chuyển qua những loại cây khác hay chuyển qua sản xuất nuôi tôm xú chịu được nước lợ; rồi phong trào nuôi cua biển đang phát triển mạnh, người nông dân sẽ dùng nguồn nước mặn này để nuôi thủy sản với giá thành cao hơn là trồng lúa. Hiện nay Viện Lúa ĐBSCL đang vận dụng công nghệ sinh học, t́m những genes chịu mặn nhằm lai tạo những giống lúa cao sản tương đối chịu mặn hơn các giống lúa thường (chứ không phải là chịu nước mặn hoàn toàn). Xa hơn nữa, Việt Nam đang cùng với nhóm MEREM / Mekong Resources Economic Management do Nhật Bản tài trợ, nhằm nghiên cứu những thay đổi môi trường nước cũng như của đa dạng sinh học trên sông Mekong để từ đó có thể khuyên cáo những chánh phủ liên hệ nên sử dụng nguồn nước sao cho an toàn hơn. (8)

 

Với Cam Bốt,  ai cũng biết rằng trái tim Biển Hồ chỉ c̣n đập khi sông Mekong c̣n đủ nước chảy ngược vào Biển Hồ trong mùa lũ, như  một bảo đảm cho nguồn cá và vựa lúa của người dân xứ  Chùa Tháp.  Và chưa hề có bảo đảm nào cho một tương lai như vậy; nhưng với ông Thủ Tướng Hunsen, nhân buổi lễ thả cá giống vào một hồ ở phía đông Cam Bốt, đă tỏ ra thỏa măn với t́nh h́nh khai thác con sông Mekong như hiện nay, nhất là với nước lớn Trung Quốc, theo ông sẽ chẳng có vấn đề ǵ phải quan tâm.

Trước khi bay sang dự  Hội Nghị Thượng Đỉnh Côn Minh, ông Husen đă công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh, gần như vô điều kiện đối với kế hoạch khai thác sông Mekong, cho dù điều ấy đi ngược lại  ư kiến quan ngại gần như báo động của các chuyên gia bảo về môi sinh. Đi xa hơn thế nữa, ông Hunsen c̣n cho rằng ư kiến chỉ trích chỉ để chứng tỏ là họ chú ư tới môi sinh, và đôi khi họ dùng đó như thứ rào cản nhằm ngăn chặn sự hợp tác nên có giữa 6 quốc gia. [AFP, 6/29/05].

Chỉ v́ sự thiển cận và chút quyền lợi rất ngắn hạn [trước đó Bắc Kinh cho Nam Vang vay 30 triệu Mỹ kim, cộng thêm với 70 triệu Mỹ kim nữa để cải thiện hệ thống quốc lộ]. Hunsen đă dễ dàng hy sinh một ḍng sông và một Biển Hồ như mạch sống và trái tim của cả một đất nước Cam Bốt.  (4) 

 

MẠCH SỐNG MEKONG, MÁU CỦA ĐẤT

 

Qua những hội nghị từ Thượng Đỉnh, tới cấp Bộ Trưởng rồi Giám Đốc các Ủy Ban, với bao nhiêu là tuyên ngôn rồi tuyên cáo, tất cả chỉ như những khẩu hiệu, có tính cách h́nh thức, “với nhiều chữ nhưng lại ít thông tin, và trong thực tế vẫn mạnh ai nấy làm và Ủy Hội Sông Mekong chưa hề là một tổ chức đoàn kết có tầm vóc để được coi là đối trọng đối với nước lớn Trung Quốc. Nhất là sự chia rẽ phân hóa đă có ngay trong cấp lănh đạo cao nhất các quốc gia hạ nguồn.

 

Nói ǵ đi nữa th́ Bắc Kinh vẫn cứ đi thênh thang trên con đường đă vạch ra của ḿnh. Trong hai ngày 4-5 tháng Bảy vừa qua [2005], từ  thủ phủ tỉnh Vân Nam, trong  ánh điện rực sáng tỏa ra từ những ṭa nhà cao ốc do nguồn thủy điện từ con đập Mạn Loan trên sông Mekong, Thủ Tướng Trung Quốc  Ôn Gia bảo đă nói thẳng trước Hội Nghị Thượng Đỉnh 6 nước thuộc Lưu Vực Lớn Sông Mekong họp lần Hai  [Second GMS Summit] tại Côn Minh rằng:

 

“ Đừng quá trông cậy lệ thuộc vào Trung Quốc trong khi Trung Quốc chủ yếu dựa vào sức ḿnh là chính trong tiến tŕnh phát triển...  Cho dù có tiến bộ kinh tế đă đạt được nhưng cũng phải khiêm tốn để thấy rằng lợi tức tính trên mỗi đầu người ở Trung Quốc vẫn chỉ được sắp hạng dưới 100 so với các nước phát triển khác trên thế giới. (5)

 

Bảo vệ môi trường nếu có được nhắc tới hơn một lần trong hội nghị chỉ như một khẩu hiệu, trong khi Trung Quốc vẫn không ngừng xây hàng loạt những con đập thủy điện khổng lồ trên ḍng chính sông Mekong, đang gây rất nhiều tranh căi và quan ngại của các chuyên gia môi sinh [ngoại trừ niềm tin lạc quan vô căn cứ của ông Hunsen, thủ tướng Cam Bốt] đối với ảnh hưởng tác hại khó lường đối với nguồn nước sử dụng nơi hạ nguồn.

 

THÁCH ĐỐ CỦA THẾ KỶ 21

 

Chiến tranh nóng rồi chiến tranh lạnh cũng qua đi, Trung Quốc mau chóng hội nhập với thế giới bên ngoài. Tất cả sáu nước ven sông [2 nước Trung Quốc và Miến Điện không là thành viên Ủy Hội Sông Mekong] với  những định chế chánh trị xă hội và văn hóa khác nhau, nhưng cùng có chung một nhu cầu khẩn thiết là khai thác con sông Mekong để phát triển. Không phải là không có những mâu thuẫn quyền lợi và tranh chấp khi tới với nguồn nước và tài nguyên không phải là vô hạn của ḍng sông.

Thực tế cho thấy dễ dàng để thỏa thuận với nhau trên một số nguyên tắc khái quát

như  sử dụng nước và các nguồn tài nguyên phải đáp ứng với nhu cầu bảo vệ, bảo tồn,  thăng tiến môi sinh và duy tŕ cân bằng hệ sinh thái  nhưng đi vào thực hiện với chi tiết c̣n cả một khoảng cách đại dương.

Chẳng hạn ai sẽ thực sự trách nhiệm duy tŕ ḍng chảy tối thiểu của con sông Mekong trong mùa khô cũng như  ḍng chảy mùa lũ để có ḍng chảy ngược từ con sông Mekong vào Biển Hồ, để nước mặn từ ngoài Biển Đông không tiếp tục lấn vào sâu và xa hơn nữa nơi ĐBSCL ?

Dĩ nhiên sẽ có những diễn dịch khác nhau và phản ứng hành động khác nhau theo hoàn cảnh của mỗi nước ven sông.

Rồi nh́n về Việt Nam với h́nh ảnh ước lệ của hơn nửa thế kỷ trước về một Đồng Bằng Sông Cửu Long, với ruộng vườn thẳng cánh c̣ bay, tôm cá th́ đầy đồng - th́ nay tất cả đă đi vào quá khứ.  Chỉ mới đây thôi có dịp trở lại viếng thăm, để chỉ thấy trên toàn cảnh là một ĐBSCL đang suy thoái và cứ  nghèo dần đi.

 

NGÔ THẾ VINH

08/2005  

 

 

Tham Khảo:

1/  Kunming Declaration, Second Greater Mekong Subregion Summit, 4-5 July 2005

2/  Phnom Penh Declaration, First Greater Mekong Subregion Summit, 03 Nov 2002

3/  Agreement on the Cooperation for the Sustainable Development of The Mekong River Basin, Chiang Rai, Thailand 05 Apr 1995

4/  Hunsen backed China's often-criticized development plans for the Mekong River, Phnom Penh, Jun 29, 2005 , [AFP]

5/  Chinese Premier Wen Jiabao opened the Second Greater Mekong Subregion Summit, Beijing, Jul 4, 2005, [AFP]

6/   Global Warming is causing Hymalayan glaciers retreat, threatening to cause water water shoratges, Geneva, Mar 14, 2005, [AFP]

7/  Progress In Water Management at the Mekong River Basin, MRC Presentation at Third WWF, INBO Official Session 20 Mar 2004

8/  Ánh Nguyệt, phóng viên RFI  Phỏng vấn Giáo Sư Vơ Ṭng Xuân  03-12-2004

9/  Chinese Dam Project may spell disater for mighty Mekong River, Denis Gray, Nov 2, 2002, [AP]

10/ Mekong River At Risk, Bary Wain, FEER, Aug 26, 2004