XUÔI DÒNG SÔNG MEKONG SAU THỜI CHIẾN

THOMAS O’ NEILL – Bản dịch Tâm Bình

 

Hơn một trăm năm trước, một đoàn thám hiểm Pháp trong đó có Francis Garnier đã khởi hành từ Sài gòn (1866) “Ngược Dòng Sông Mekong”để tìm một thủy lộ giao thương với Trung Hoa nhưng họ đã thất bại. (Đi Tới 37) Và con sông Mekong vẫn còn hoang dã. Sau hơn một nửa thế kỷ chiến tranh bom đạn kể từ Thế chiến thứ Hai cho tới khi chấm dứt cuộc chiến tranh Việt nam, mãi tới gần đây con sông Mekong bắt đầu có những thay đổi mau chóng với những dự án phát triển: xây dựng các nhà máy thủy điện các khu kỹ nghệ đem lại hy vọng cho các quốc gia trong vùng. Ký giả Thomas O’Neill cùng phóng viên nhiếp ảnh Michael S. Yashimata đã thực hiện cuộc hành trình xuôi dòng sông Mekong”(1993) từ thượng nguồn Tây Tạng xuống Vân Nam qua Miến điện Lào Thái Lan Cambốt xuống tới đồng bằng sông Cửu Long. Thiên phóng sự phong phú và hấp dẫn về chuyến đi ấy đã được đăng tải trên tờ National Geographic số tháng 2, 1993 (Vol.183, No.2). Bản tiếng Việt của Tâm Bình.

 

 

TÂY TẠNG: NGUỒN SÔNG TỪ NÚI THIÊNG.

Ở độ cao 15 ngàn bộ trên cao nguyên Tây tạng, chẳng có một chốn nào để mà ẩn trú. Tuyết thổi bay như những mũi tên. Meiga, tên người du mục Tây tạng vẫn kéo ngựa đi qua cơn bão tuyết và vẫn vô vọng tìm kiếm một khe đất cho chúng tôi trú ẩn. Khi tầm nhìn xuống gần số không, chúng tôi chỉ còn cách dừng lại buộc ngựa, chúi đầu ngồi chụm lại với nhau, để mặc cho cơn bão hành hạ.

“Đó là điềm lành”, Meiga đã nói vậy trong khi để lộ khuôn mặt sẫm với gò má cao cho những bông tuyết tới tấp đập vào. Anh ta nói tiếp: “Khi các anh tới gần núi thiêng, thì thời tiết thay đổi đột ngột. Và nguồn sông không còn cách đây bao xa.”

Chờ cho những cơn gió thốc dữ dội qua đi, ngồi nhai miếng bò khô do Meiga đưa cho, tôi nghĩ tới chặng đường bao xa để tới được nơi đây, và phải còn bao xa nữa để đi tới.

Mục đích của tôi là đi suốt dọc theo chiều dài sông Mekong, con sông có chiều dài đứng hàng thứ bảy ở Á châu và hàng thứ 12 của cả thế giới. Con sông bắt đầu đâu đấy trong vùng núi tuyết này và kết thúc ở khoảng 2600 dặm nơi vùng biển ấm Nam hải ngoài khơi của Việt nam. Tôi biết rằng đây là một cuộc hành trình dài và khó khăn.

Để tới được nơi đây tôi đã phải băng qua hàng ngàn dặm trên một chiếc xe Jeep nhà binh cũ từ Xining, thủ phủ của tỉnh Qinghai  Trung quốc. Những con đường thô sơ gập ghềnh leo cao, cao lên mãi tới 15 ngàn bộ tới không còn một con đường nào nữa ngay biên giới phía bắc của Tây tạng. Nơi ấy trên một con sông đóng đá là hai chiếc lều đen lớn của những người chăn bò Tây tạng. Tôi và nhiếp ảnh gia Mike Yashimata đến dựng lều cạnh đó.

Những người du mục đó đã theo dõi khi chúng tôi tới và vào buổi chiều cùng ngày họ mời chúng tôi tới lều họ. Đó là một nơi ám khói, thiếu ánh sáng với chồng chất những túi ngủ được xếp vào một góc. Tôi gặp Meiga, và người vợ là Daji tóc để dài trang sức với vỏ sò và những mảnh kim loại bằng bạc đập vào nhau leng keng khi đi, thêm sáu đứa con và cả người anh vợ tuổi đã già tên Bucairen móm hết cả răng.

Người vợ mời chúng tôi ăn bánh, giống như loại bánh xếp làm bằng bột lúa mạch, trong khi Bucairen thì giót trà muối nóng sôi vào trong những chiếc tách. Chúng tôi bắt đầu hỏi anh về cội nguồn con sông Mekong.

“Có hai nguồn lựng,  anh vừa nói vừa nhúm thêm lửa bằng những miếng phân bò khô, những cụm khói làm chảy cả nước mắt chỉ thoát ra được bằng một lỗ thông trên nóc. “Một nguồn từ núi cao trên đỉnh băng giá; không có một ai đặt chân tới đó. Và còn một nguồn thần linh, thì ở phía sau ngọn núi thiêng.”

Meiga nói thêm: “Bọn du mục chúng tôi tin có một vị thần linh là một con rồng tên Zjiadujiawangzha, sống trên ngọn núi thiêng và bảo vệ cho nguồn nước an lành. Chúng tôi tin rằng nếu uống được nguồn nước ấy người ta sẽ sống lâu. Thú vật nếu uống vào cũng vậy. Nước sông ấy chính là máu chảy trong cơ thể chúng ta.” Anh cũng đồng ý sáng sớm hôm sau sẽ dẫn chúng tôi tới vùng núi thiêng cách 25 dặm về hướng bắc.  

Tảng sáng chúng tôi cột đai yên ngựa với những ngón tay tê vì lạnh cóng. Những con ngựa Mông Cổ to vạm vỡ với những bờm lông dài bay tả tơi trước gió. Meiga chạy nước kiệu phía trước chúng tôi. Cưỡi trên lưng con ngựa hoe đỏ, khuôn mặt Meiga thật sinh đôäng với chiếc ghim bạc cài sau dải tóc đen, con dao găm với cán chạm ngọc dắt nơi thắt lưng chiếc áo bằng da cừu.

Chúng tôi cưỡi trên những con ngựa đi lặng lẽ, chỉ có âm thanh của chuông ngựa gõ nhịp và những tiếng móng chân ngựa nghiền trên lớp cỏ tuyết giá. Thảo nguyên bao quanh bởi những đỉnh núi tuyết Tanggula dọc theo biên giới Tây tạng và tỉnh Qinghai của Trung quốc. Từ trên triền núi băng tuyết ấy là khởi nguồn của một con sông dài nhất Á châu, sông Dương tử dài 4000 dặm chảy suốt chiều ngang của lãnh thổ Trung quốc.

rồi  chúng tôi như bị phục kích bằng một cơn bão tuyết tới thật bất chợt. Chúng tôi chỉ còn biết núp sau những con ngựa và đoán chừng có lẽ chúng tôi phải quay trở về. Nhưng rồi cơn bão cũng bất chợt qua đi giống như đã bất chợt đổ tới, để lộ ra một bầu trời xám chì. Người và ngựa lai đi thêm một tiếng đồng hồ nữa thì tới một ngọn đồi cô quạnh hình tháp nhọn. Meiga bảo: “Đây là ngọn núi thiêng,” anh ta moi từ một chiếc túi bên hông ngựa một bó giấy màu có in những dòng Kinh Phật. Anh reo vui tung cao những trang giấy kinh và hân hoan nhìn chúng cuốn theo chiều gió. 

Và cũng sắp đến lượt tôi phải hân hoan reo hò. Chúng tôi di chuyển nơi phía sau ngọn núi và thấy một dải băng dài cỡ 300 thước Anh có hình thù thắt lại như thứ đồng hồ cát. Nghiêng cúi xuống mặt nước đá, tôi có thể nghe thấy tiếng nước chảy róc rách. Đó là những âm tiết đầu tiên của con sông Mekong. Và tôi cũng khám phá ra rằng, tôi và Mike là những nhà báo Tây phương đầu tiên được nghe thấy những âm thanh ấy. Tôi đi dọc theo dải băng cho đến khi thấy được con nước chảy tự do và uốn khúc trên một cảnh trí hoang vắng. Tất cả chúng tôi, người và ngựa đều cúi xuống uống những ngụm nước cho kéo dài tuổi thọ. Tiếng hò reo vui của tôi lúc này cũng thật nhẹ nhõm do hơi thở thật loãng.

 

TRUNG QUỐC: CON SÔNG CUỒNG NỘ.

Từ nguồn này, con sông Mekong chảy ngót một nửa chiều dài trên lãnh thổ Trung quốc, rồi chảy theo biên giới hay qua Miến điện, đi xuống các nước Lào, Thái lan, Cam bốt và Việt nam. Tôi cũng biết được rằng con sông mang nhiều tên khác nhau: sông Thạch hà, sông Long phi, sông Bất kham, sông Mẹ Khong, sông Đại thủy, sông Cửu long. Con sông ấy đã chảy dọc theo những đế quốc, những vương triều, những thuộc địa qua các giai đoạn thăng trầm, nối tiếp bằng hình thành những quốc gia đắm chìm trong chiến tranh và máu lửa. Chết chóc và khổ đau như là định mệnh của vùng đất ấy.

    

Qua suốt chiều dài con sông Mekong vẫn như còn tự do và hoang dã, vẫn di chuyển với nhịp độ của thuở xa xưa: mùa mưa, mùa nước lũ với con nước tô bồi đất đai và nuôi sống những người dân quanh đó. Theo suốt chiều dài con sông ấy, cũng chỉ mới mọc lên một thành phố, một con đập, vài chiếc cầu, và chưa có những khu kỹ nghệ đáng kể nào.

Nhưng đồng thời tôi cũng khám phá ra rằng tình cảnh đang có những đổi khác. Sau nửa thế kỷ của bom đạn, đây cũng là lần đầu tiên trong vùng im tiếng súng. Các chánh phủ bâáy lâu vẫn cô lập cùng với đám dân chúng nghèo khổ của họ, thì nay bắt đầu mở cửa biên giới, tìm đầu tư ngoại quốc để phát triển. Con sông Mekong có vai trò trong đó, nó sẽ bị khai thác biến đổi, hết còn hoang dã, cũng kéo theo sự thay đổi của đám dân chúng sống quanh nó.

Khi nhìn lại con sông khoảng một trăm dặm dưới nguồn trong thị trấn bụi bặm Zadoi, có thêm hàng chục nhánh sông khác từ những đỉnh núi cao đổ vào, biến dòng nước băng giá thành một cuồng lưu mênh mông trải rộng với phù sa đục ngầu.

Với chiếc xe Jeep bị hư nhíp, chúng tôi đi vào thị trấn Zadoi lúc buổi chiều. Người tài xế bóp còi để tránh đàn bò và những người đi xe đạp. Khu phố chỉ gồm rải rác những căn nhà vách đất và ít tòa nhà hành chánh màu xám trông giống như những trại lính. 

Các bà già tay lần chuỗi hạt. Đám đàn ông trẻ ngồi ăn nhậu ngoài hè quán. Họ cười lớn khi có toán đàn ông khác vác xẻng đi qua trên đường trở về nhà tù sau một ngày lao động.

Một viên chức lên tiếng xin lỗi chúng tôi vì tình trạng thiếu tiện nghi và thiếu cả phương tiện giải trí. Tuy nhiên anh ta khoe là 75% các căn nhà đã có máy truyền hình, với hai đài từ Bắc kinh được tiếp vận qua vệ tinh mỗi buổi chiều. Chúng tôi ngủ trong căn nhà vãng lai của tỉnh. Căn buồng có năm giường với nền bằng ximăng và một lò sưởi than. Vì bị mất điện, tôi phải đọc bằng ánh sáng từ chiếc đèn pin nhỏ.

Ngày hôm sau chúng tôi tới thăm tu viện Zao Qin cổ kính có từ 500 năm trước, nằm bên một triền núi phía dưới dòng. Tôi gặp một nhà sư với chiếc áo cà sa màu đỏ xậm. Ông cho biết tu viện có khoảng 50 nhà   tu tập về giáo lý Phật giáo Tây tạng. Tu viện này cũng như ở các nơi khác từng bị đóng cửa suốt 10 năm trong cuộc cách mạng văn hóa và chỉ được mở lại từ năm 1979.                                  

Khi chúng tôi tới giảng đường, thì một người đàn ông râu bạc trắng chống gậy đi về phía chúng tôi. Ông tên là Tudinangjia và cũng là vị sư trưởng. Ông vào tu viện năm 8 tuổi, lên tước vị sư trưởng năm 28 và nay tuổi đã 70.

Nhiều tăng ni trẻ theo chúng tôi vào giảng đường, người nào đầu cũng trọc lốc, mặt mũi lem luốc, dáng vẻ tò mò, trông thơ ngây và e thẹn giống như những chú hướng đạo sinh. Vị sư trưởng thiền tọa trên một chiếc bục thấp, đôi mắt sáng rỡ và trẻ trung. Ông giảng cho chúng tôi biết ngày của các tăng ni bắt đầu từ rạng đông, mọi người đọc kinh, học giới pháp và cầu nguyện. Nhiệm vụ vị sư trưởng là “yêu thương chúng sinh, thông tường kinh kệ để có thể rao giảng.”

Khi theo xuống chân đồi, tôi hỏi một vị sư khác là khi sư trưởng Tudinangjia viên tịch thì sự thể sẽ ra sao. “Thầy sẽ được hỏa thiêu. Còn các vị sư khác sẽ được thiên táng,” ông ta giải thích thêm, thân xác được chặt thành những mảnh nhỏ và để ngoài sân cho bầy kên kên tới ăn. “Đó là đức tin của chúng tôi, là thân xác của nhà   sẽ trở thành tặng vật cho những sinh vật khác.”

Vị sư chỉ ra phía sân của tu viện, nơi có dăm ba chú kên kên đen xám bẩn thỉu đang mổ những khúc xương. Ông giải thích: “Đó là những khúc xương bò, chúng tôi nuôi chúng ăn để chúng lai vãng nơi đây. Và chúng sẵn sàng có mặt khi chúng tôi cần.”

 

Tôi bị mất hút khúc sông Mekong tiếp đó khoảng 500 dặm. Các viên chức Trung quốc cấm chúng tôi đi xuyên qua xứ Tây tạng và một phần ba phía bắc tỉnh Vân nam. Đây cũng là vùng con sông xiết chảy ngoạn mục nhất, đổ xuống từ những ghềnh thác cao tới khoảng hai dặm.

Họ bắt chúng tôi phải đi vòng, sau này tôi mới hiểu được rằng họ không muốn người ngoại quốc chứng kiến những địa điểm đóng quân hay những phong trào chống đối có thể bộc phát ra ở trong vùng nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Trung quốc chiếm đóng Tây tạng.

Khi bắt đầu lại cuộc hành trình từ Vân nam tôi mới nhận ra rằng thật khó mà đi dọc theo con sông. Không có đường xá để đi tới đó. Có vài con đường mòn men tới gần con sông nhưng thường là kết thúc trên bờ vực nhìn xuống con nước chảy xiết. Đưa tầm mắt nhìn khoảng 20 dặm về phía tây trung tâm mỏ chì Lanping, là con nước cuồng nộ đổ từ thành cao xuống vực sâu ba ngàn bộ. Chỉ có vài chiếc cầu đơn giản bắc qua đó. Có nơi chiếc cầu chỉ là sợi dây cáp treo băng qua. Tôi thấy người lớn và cả trẻ em ở làng bên đu mình trên sợi dây ấy để qua bên kia dòng nước bạc.

Chiếc cầu xưa nhất mà xe có thể chạy qua thuộc vùng Baoshan gần biên giới Miến điện. Đó là chiếc cầu Gong Guo bằng sắt được dựng lên khoảng những năm 30 để giao thông tiếp vận từ Miến điện tới vùng đồi núi hậu trạm là bên Trung hoa trong Thế chiến thứ hai.

Các viên chức Trung quốc tin rằng chiếc cầu này cũng là trạm giao liên của giới buôn ma túy từ Miến điện vào Trung quốc. Không thấy có trạm kiểm soát nơi đầu cầu nhưng công an thì trấn đóng trên các con đường đèo. Trong một tiếng đồng hồ, tôi chỉ thấy vỏn vẹn có hai chiếc xe vận tải cũ rầm rì qua cầu.

 

Khoảng 125 dặm từ con cầu suôi xuống là chiếc đập chắn ngang sông Mekong. Chúng tôi chạy xe theo những con đường hẹp bao quanh bởi các lũy tre. Người tài xế đôi khi phải chạy chậm lại khi gặp những người thợ săn đi chân đất với súng kíp băng qua. Bất chợt hiện ra trước mắt chúng tôi là bức tường kiên cố cao 35 tầng nhô lên từ lòng con sông chạy giữa hai ngọn núi.

Phía trước và sau là chằng chịt các giàn gỗ với li ti hình dáng những công nhân xây cất đập đang làm việc trên đó. Với những ống dẫn nước cao 40 bộ đục qua khe núi. Dòng sông trông thuần lành như con chó bị cột xích đưa vào ống dẫn để rồi bất chợt lại vùng vẫy sủi bọt khi bị giam hãm trong đó.

Đây là đập Manwan sẽ hoàn thành vào năm 1995 (bài viết 1993) với dự trù sẽ cung cấp 1500 megawatts điện cho các khu mỏ mới và khu kỹ nghệ Kunming gần thị trấn tỉnh Vân nam.

You Wan Long người giám đốc công trường nói: “Con sông này giống như khu hầm mỏ giàu có với lưu lượng nước thì khổng lồ.” Trong khoảng ba thập niên tới Trung quốc hy vọng xây thêm tám đập nữa trên sông Mekong để tạo sức bật phát triển cho các vùng kém mở mang như hiện nay. Các đập chứa sẽ trải ra như những bậc thềm đá khoảng 300 dặm từ biên giới Hoa-Lào ngược lên phía bắc.

Từ Jinghong khoảng 30 dặm từ biên giới phía nam, tôi nhận ra là mình đã tới vùng khí hậu nhiệt đới, với chợ búa bày bán đầy những trái đu đủ, trái dừa và dứa. Các phụ nữ sắc tộc Dai (Thái?) mặc những chiếc áo sặc sỡ hình chim bướm đủ màu vàng xanh đỏ.

Dân làng thay vì sợ hãi né tránh thì nay sống chan hòa với con sông ấy. Trẻ con phóng mình từ bờ cao xuống dòng sông. Phụ nữ thì giặt rũ, gội đầu trong dòng nước ấy. Vài người với chiếc váy sarong phồng hơi bơi lội tung tăng trong làn nước ấm xen giữa những tàu lá xúng. 

Tại Jinghong vào một buổi chiều, tôi theo đám người đi xe đạp ra phía cầu sông để hóng mát. Phía dưới cầu là những người đàn ông và trẻ em đang lượm vớt những khúc củi gỗ trôi để đem bán.

Ai Zhen, viên chức hướng dẫn nói: “Trong vùng đất này không có gì bị bỏ phí.” Tôi cũng nghĩ như vậy. Khúc sông Mekong ở Trung quốc sẽ còn phải cưu mang nhiều thứ; những tháng ngày cuộn sóng trong hoang dã của con sông cũng sắp chấm dứt.

 

MIẾN THÁI LÀO VÀ KHU TAM GIÁC VÀNG.

Rời khỏi lãnh thổ Trung quốc, chạy theo ranh giới Miến điện và Lào rồi Thái lan. Đây cũng là ranh giới của cả ba nước với khu Tam giác Vàng nổi tiếng thế giới là nơi trồng và chế biến thuốc phiện. Từ lâu đây cũng là bản địa của các lãnh chúa với các đàn lừa chở thuốc phiện có võ trang.

Khi tôi tới Sob Ruak, một thôn ấp Thái bên cạnh sông Mekong ngay giữa vùng Tam giác Vàng, đã từng là nơi trồng trồng trọt và chế biến thuốc phiện nổi tiếng nhất thế giới. Tôi không còn trông thấy những đàn lừa mà chỉ có những chuyến xe buýt lớn sáng choang với đầy khách du lịch người Âu trên đó. Trên sườn đồi là hai khách sạn nghỉ mát; một khách sạn thứ ba đang được xây cất phía khu bên bờ thuộc Miến điện.

Giới quân sự Thái đã thanh toán đâåy lùi các khu chế lọc và những đàn lừa chở thuốc phiện ra khỏi vùng. Để thay thế cho nền kinh tế thuốc phiện thì bây giờ là du lịch. Du khách bay từ Bangkok tới Chiang Rai, cách 40 dặm về phía nam Sob Ruak. Từ đó họ đi xe buýt tới đây. Vào mùa khô, từ tháng 11 tới tháng 5, hai khách sạn lúc nào cũng chật ních.

Marc Cremoux, viên quản lý bảnh bao người Pháp của khách sạn Baan Boran nói: “Sự nổi tiếng cua khu Tam giác Vàng đã lôi kéo du khách tới đây. Tôi cũng nghe họ nói là từ nơi đây thuốc phiêän được gửi đi. Rồi tiếng đồn lan xa. Tới đây người ta tưởng đã tham dự vào cuộc phiêu lưu, cho dù là họ ở trong những khách sạn 5 sao và đi trên những xe buýt có máy điều hòa không khí.”

Tội ác hay manh nha của tội ác vẫn phải trả giá ở nơi đây.

 

LÀO VÀ CON SÔNG GHỀNH THÁC.

Từ khu Tam giác Vàng, con sông Mekong lao vào hướng đông, sâu trong các khu rừng rậm trên vùng cao nguyên nước Lào và con sông mang vẻ hoang dã trở lại. Vương quốc Lào có diện tích bằng nước Anh nhưng dân số chỉ có 4 triệu rưỡi người sống nghèo nàn cô lập trong các vùng núi non và rừng rú rậm rạp. Với Lào thì con sông Mekong là cửa ngõ để mở ra bên ngoài thế giới.

Từ 1975, Lào bị cai trị bởi đảng Cộng sản Pathet Lào và gần đây có chủ trương theo một đường lối bớt cứng rắn. Khúc sông tiếp giáp với biên giới Thái được mở trở lại; với quy chế mậu dịch tự do và cho phép nhận đầu tư từ ngoại quốc. Nhưng chính phủ Lào thì vẫn không yên tâm khi tiếp xúc với các nhà báo Tây phương.

Một trong số ít nơi mà chính phủ Lào cho phép tôi được thăm viếng trên con sông Mekong là bờ sông ở phía bắc với vô số những tượng Phật, đông hơn cả số người qua lại trong vùng trong cả tháng. Có khoảng 7000 tượng Phật trong khu hang Pak Ou với thành lũy cách thủ phủ cũ Louangphrabang  khoảng 22 dặm về phía thượng nguồn.

Kéo thuyền lên bờ, tôi theo chân Thong Chanh tên người hướng dẫn leo lên những bậc thềm dốc. Chúng tôi đi vào một khu dịu mát và ẩm thấp mùi bùn. Có hàng trăm tượng Phật không cao quá hai bộ, đặt trên bệ hướng mặt ra sông Mekong. Tất cả đứng thẳng và yên tĩnh như một ban hợp xướng vĩ đại chuẩn bị sắp sửa cùng cất tiếng hát.

Trước dãy tượng Phật, Chanh cất bỏ chiếc nón dã cầu ra khỏi đầu và nói: “Vào thế kỷ 16, dân chúng Louangphrabang khiêng hết các tượng Phật ra đây khi kinh thành bị tấn công. Kể từ đó cứ vào dịp Tết Pi Mai mừng năm mới, vào khoảng tháng 4 dân làng trở lại đây với hoa và nước thơm tắm rửa cho những bức tượng.”

Đa số các bức tượng bị mẻ hay rạn nứt và bị bao phủ bởi mạng nhện hay bụi đất. Nhưng những nụ cười của tất cả bức tượng Phật xinh xắn ấy đã tỏa chiếu xuống dòng sông màu nâu ấy một vẻ an tĩnh thái hòa, điều mà tôi không thấy ở bất cứ đâu trên suốt thủy trình đầy bất an của con sông này.

Trở lại thuyền, Chanh đề nghị tôi tới thăm Ban Don ngôi làng quê của anh.  Khi tới nơi, bên bờ sông thấy dân làng đang rãy cỏ và tưới cho những luống hành, vườn khoai, bắp và luống cải. Nhưng rồi tiếng cuốc rãy mau chóng bị lấn át bởi những tiếng búa đập trên những thanh sắt. “Đây là làng thợ rèn.” Chanh vừa giải thích vừa bước vội ngược lên con đường đất.

Anh gặp lại người cha đang ngồi xổm rèn một chiếc rựa từ thanh sắt nóng. Những mảnh kim khí nóng màu sáng bạc bắn tứ phía vào lưng vào ngực ông ta. Ông già giải thích: “Tôi phải làm cho xong mười con rựa hôm nay, dân miệt trong sẽ tới mua để có cái chặt tre đốn gỗ và làm rẫy.”

Nghe tiếng chúng tôi, bà mẹ Chanh từ trong nhà đi ra. Bà cười chậm chạp với nét mặt nhăn nheo tới sát mặt Chanh: “Con đấy hả.” Bà cụ gần như mù, kêu con gái đem bánh nếp kao nom kok  rắc dừa ra mời khách. Sau đó bà ngồi xệp ngay bên ông chồng để phụ rũa một chiếc rựa chưa hoàn tất.

Chanh nói: “Ba mẹ tôi làm việc rất cực mỗi ngày. Vụ cá năm nay cũng lại mất mùa. Có thể nay mai tôi phải tìm cách giúp ổng bà, nhưng hiện giờ thí chính tôi cũng rất thiếu thốn.”

Cách kinh đô cũ khoảng 200 dặm, con sông Mekong lại bắt đâàu trườn ra và trở thành đường ranh giới giữa Lào và Thái lan. Khoảng 100 dặm xuống xa hơn nữa là thủ đô Vạn tượng, với những tòa nhà màu gạch và dân số khoảng 125 ngàn người. Đa số nhà cửa chỉ có một tầng. Tôi thích được đi bộ theo dọc con sông vào những buổi sáng, ngắm hàng đoàn thuyền nhỏ di chuyển trên sông giữa Vạn tượng và bến cảng Nong Khai phía bên Thái cách đó chừng vài dặm. Những con thuyền từ Lào với thúng mủng trống trơn trên đường tới Nong Khai nhưng trên đường về thì chất đầy những hàng hóa mới. Cảnh sinh hoạt như vậy bắt đầu từ năm 1989 khi có chính sách mậu dịch tự do. Một chiếc cầu nối liền hai nước sẽ được hoàn thành vào năm 1994.

Trái với sự hối hả của người Thái, chiếc phà vẫn tách khỏi bến khoảng 2 tiếng để người Lào vẫn có thể  có giấc ngủ trưa. Vào khoảng 2 giờ chiều, phố xá sinh động trở lại với xe gắn máy và những người đi bộ. Các bảng hiệu bằng tiếng Anh “Xuất Nhập Cảng” treo khắp nơi trong các khu buôn bán. Từ năm 1987 nhà nước cho phép ngoại quốc được đầu tư, thì đã có khoảng 225 công ty, đa số là những tổ hợp may mặc và thương mại với số vốn đầu tư từ Thái lan.

Chanthao Pathammavong, là chủ tịch Công ty Liên doanh của Lào. Cô vận một chiếc váy theo lối y phục cổ truyền Lào và cũng yêu cầu khách cởi giầy khi bước vào trong nhà. Đó là một người đàn bà khoảng 45 tuổi, đã từng lam việc ở ngân hàng quốc gia trung ương. Bà nói: “Chúng tôi còn phải học hỏi quá nhiêàu điều, như vấn đề kiểm tra chất lượng, các luật lệ về tài sản, về vay vốn dài hạn, về nghiên cứu thị trường. Bây giờ chúng tôi được phép làm các dịch vụ sinh lợi nhưng nhà nước thì vẫn thu phần lời quá cao tới 45%.”  

Nơi phòng trưng bày của công ty hướng ra mặt phố thấy các mẫu hàng nhập cảng từ Thái lan: máy điều hòa không khí, máy photocopy, máy bơm nước. Mẫu hàng xuất cảng gồm có mắm bò hóc, các loại da bò sẽ được thuộc tại Thái lan.

Giống như những người Lào khác, cô ta tỏ ý e ngại về ảnh hưởng tràn ngập của Thái lan với dân số hơn 56 triệu và một nền kinh tế thì rất năng động. Cô nói: “Chúng tôi không muốn mọi thứ đều phải nhập cảng từ bên ngoài, chúng tôi mong xây dựng được một nền kinh tế độc lập, nhưng phải cần một thời gian dài.”

Các chuyên gia thì tin rằng một thứ mà Lào có thề bán ra ngoại quốc là thủy điện. Hầu hết tiềm năng điện của sông Mekong đều nằm trong lãnh thổ nước Lào.

Gần đây Ủy ban sông Mekong, cơ quan phát triển được sự tài trợ của Liên hiệp quốc ở Bangkok đã đưa ra kế hoạch xây cất 4 đập thủy điện khổng lồ trên sông Mekong.  Đập Pa Mong cách 12 dặm về phía bắc Vạn tượng, là dự án đầu tiên được cứu xét với ngân khoản chi phí lên tới 2.8 tỉ Mỹ kim. Bể chứa của đập sẽ dìm trong đáy nước một vùng đất đai và nhà cửa của 60 ngàn dân cư.

Thái lan đã lên tiếng chỉ trích là những con đập này sẽ gây gián đoạn chu kỳ của các dòng nước lũ và sự di chuyển của các loài cá - cùng khiến một số dân cư phải di tản và như vậy cái giá phải trả sẽ quá cao.

Quyết định sẽ do các ủy viên thuộc Ủy ban sông Mekong gồm có Lào, Thái lan, Cambốt, Việt nam và có thể cả Trung quốc cũng muốn được tham dự. Một viên chức Lào trong Ủy ban sông Mekong ở Vạn tượng cho tôi biết là: “Chưa có một quyết định nào về con đập Pa Mong. Nhưng thật khó cho chúng tôi khi phải xuất cảng nông phẩm hay gỗ nhưng cũng thật là dễ dàng để xuất cảng điện. Chúng tôi có trong tay một thị trường rất lớn là Thái lan. Tôi chưa thấy cách nào khác hơn đề chúng tôi có thêm ngoại tệ.”

Con sông Mekong rời khỏi Lào bằng một đoạn ghềnh thác mạnh mẽ sủi bọt rất ngoạn mục có tên là Thác Khone chạy dài khoảng 6 dặm.

 

CAMBỐT VÀ KHÚC SÔNG QUA CÁNH ĐỒNG CHẾT.

Con sông Mekong hoàn toàn thay đổi khi chảy vào lãnh thổ Cambốt. Nó mất vẻ căng thẳng hùng   trở thành trải rộng mênh mông từ 2 tới 3 dặm chiều ngang. Cảnh trí cũng bằng phẳng, lại được cộng thêm các nhánh sông Kong, San, Srepok, Krieng làm tăng thêm lưu lượng nước cho con sông.

Lần đầu tiên khi tôi nói chuyện với viên chức ở thủ đô Nam vang, họ không muốn cho phép tôi du hành trên sông Mekong, nhất là khu thuộc phía bắc, khi mà lực lượng Khmer đỏ còn hiện diện trong một số làng mạc, họ đã từng gây kinh hoàng và chết chóc trong 4 năm cầm quyền. Cho dù họ đã ký một thỏa ước hòa bình nhưng họ vẫn được võ trang. Lực lượng Khmer đỏ đã từng giết một triệu dân Cambốt, một phần tám dân số của nước này.

Nhưng khi thấy tôi tha thiết với ý định đó thì họ nhượng bộ, cho phép tôi đi thăm phía bắc con sông Mekong bằng loại thuyền máy tốc hành - “để tránh đạn tốt hơn.” Các viên chức đi với tôi đều có mang theo súng lục, riêng người tài công thì để cây súng AK-47 dưới chân.

Đó là một khúc sông quạnh quẽ với làng mạc cách xa nhau khoảng 20 tới 30 dặm. Không thấy thuyền bè lưu thông, chỉ có vài chiếc phà với những hành khách không ngừng đu đưa trên những chiếc võng. Cơn mưa rào chợt tới và cũng chợt tạnh, giúp chúng tôi rửa sạch những lớp mồ hôi. Rồi giữa buổi chiều nóng nực, chúng tôi thấy được những cơn gió mát thổi vào mặt cùng với những đợt sóng vỗ vào thành tàu. Gió đã đổi chiều. Gió mùa thổi vào từ Ấn độ dương từ tháng 5 tới tháng 9, và bây giờ chuyển sang gió mùa thổi từ Mông cổ tới khô và cũng dịu mát hơn. Mùa mưa cũng đã qua đi, và cũng là bắt đầu mùa trồng trọt. Cá bắt đầu di chuyển về hướng bắc hàng năm. Từ phía trong làng, đàn ông đàn bà lội xuống nước vợt cá bằng những chiếc lưới. Những con cá nhỏ ánh bạc vùng vẫy trong lưới. Dân làng thích thú la lên: “Bây giờ thì cả cua và ếch cũng ngon hơn trước.” Một người khác tiếp: “Ngay cả tiếng sấm cũng khác nữa.” Bị cuốn hút vào khung cảnh thiên nhiên ấy, không còn ai nhớ tới súng lục, súng AK hay cả Khmer đỏ nữa.

Nhưng người Cambốt đã cố không quên đi những ngày đen tối với đám Khmer đỏ. Tại thị trấn Kompong Cham, cách 50 dặm về hướng bắc Nam vang, một viên chức Cambốt đã dẫn tôi tới xem “cánh đồng chết”. Hầu như thành phố nào ở Cambốt cũng có cánh đồng chết như thế. Đó là nơi quân Khmer đỏ tập trung mọi người lại trước khi sát hại.

 

Chúng tôi lái xe lên ngôi chùa ở đỉnh đồi rồi đi xuống một cánh đồng với các bụi tre gai. Viên chức đi theo hướng dẫn giải thích: “Có khoảng hơn 300 ngôi mộ tập thể tại đây, các ngôi mộ lớn chôn khoảng từ 150 tới 200 người. Quân Khmer đỏ tập trung mọi người và dẫn độ họ tới đây. Họ là những người trí thức, viên chức chính quyền, thương gia giàu có hay chỉ vì là cứng đầu khó bảo. Tất cả bị bịt mắt sắp hàng và lần luợt bị đánh chết bằng búa, ống sắt hay xiên. Đã có hàng ngàn người chết như vậy ở đây. Chúng tôi đã chuyển đi 10 chuyến xe bò đầy xương người như vậy.”   

Đi xuyên qua những bụi cây, tôi có thể thấy những miếng xương, những mảnh áo quần trên nền đất. Thật là khủng khiếp. Tôi tưởng tuợng rằng đến chim trên cành cũng phải thôi hót và chỉ kêu hoảng khi nghe có tiếng người.

Ở một góc cánh đồng là những chồng xương sọ người sắp như những hàng gạch đổ. Men Saman, tên người cận vệ theo tôi từ Nam vang nói: “Thôi đi đi.” Anh ta như chìm đắùm trong hồi tưởng và tiếp: “Những điều mà tôi còn nhớ được là ăn côn trùng và thằn lằn và bụng thì lúc nào cũng vẫn đói. Và rồi tôi lại nghĩ và nhớ tới các anh chị tôi đã bị chết đói. Tôi không muốn ở đây thêm nữa.”

 

Nam vang là thành phố có 950 ngàn dân, trông cũ kỹ và nhếch nhác như như một vật bỏ ngoài mưa quá lâu. Những bức tường trong các biệt thự tráng lệ của người Pháp trước đây cũng như mặt ngoài các cửa hiệu trở thành cũ kỹ rêu phong mà chẳng được tu sửa. Một chiếc cầu gẫy xập trong một trận đánh từ năm 1972 nay vẫn nguyên vậy. Bến cảng với những cần trục hoen rỉ và chẳng có hàng hóa gì để chuyên trở.

Khi quân Khmer đỏ đi vào thành phố vào tháng 4 năm 1975, họ mau chóng xua hết dân chúng ra khỏi thủ đô, đưa tới những trại lao động khổ sai, các trại tù hoặc là sát hại. Bây giờ thì người ta đang cố tạo dựng lại thành phố này và cả xứ sở. Một hiệp ước hòa bình đã được ký kết giữa chính phủ, phe Khmer đỏ và hai nhóm kháng chiến khác. Các cuộc bầu cử được hoạch định vào tháng 5, 1993 với một lực lượng 20 ngàn quân bảo an Liên hiệp quốc sẽ tới để duy trì hiệp định ngưng bắn rất mong manh này.

Từ 1991, chánh phủ hiện tại cũng không còn rêu rao tự nhận là cộng sản nữa và bắt đầu chấp nhận quyền tư hữu trong kinh tế. Đã có những dấu hiệu thay đổi. Ông hoàng Shihanouk được dân chúng yêu mến cũng đã trở lại hoàng cung. Một chiếc tàu hàng lớn của Tân gia ba bỏ neo để đưa vào những chiếc xe hơi mới của Nhật. Tại khách sạn Cambodiana mới xây, các doanh nhân người Nhật, Tân gia ba, Thái lan, Mã lai và từ các xứ Á châu khác đổ tới đây để tìm cơ hội làm ăn.

Tôi quan tâm tới sự hồi phục của thành phố này. Và tôi cũng khám phá ra rằng Nam vang là một thành phố say mê điện ảnh. Những hàng người nối đuôi dài trước những rạp hát chắn cả xe cộ trên đại lộ Achar Mean. Khay Praseth là tên một thần tượng sân khấu trong phim Những Đứa Trẻ Hư. Khuôn mặt tròn vành vạnh mắt xụp như buồn ngủ của anh ta xuất hiện trên những tấm bảng hiệu khắp nơi trong thành phố. Tôi gặp gỡ anh ta trong một biệt thự ở ngoại ô khi anh đang tập dượt cho một cuốn phim mới.

Anh ta nói với tôi trong khi trang điểm: “Tôi chẳng bao giờ có thể dừng lại, Tôi đã đóng hàng trăm cuốn phim trong 3 năm qua.” Trước vẻ sửng sốt của tôi, hắn nói tiếp bằng giọng mỏi mệt: “Thật vậy môãi khi đi ra ngoài ai cũng nhận ra tôi, nhất là đám con gái.” Cuộc nói chuyện bị cắt ngang vì Khay phải nhảy vào giường bất chợt với một cô bạn gái nào đó... hoặc một tình huống nào đó tương tự mà tôi cũng không biết rõ.

Một buôiå chiều tôi đi dạo trên một “Con Phố Anh ngữ” gồm những tòa nhà 2 từng không cách xa mấy khu hoàng cung. Khoảng 5-6 giờ chiều trên đường phố tấp nập những cô cậu học sinh đi xe đạp hay xe gắn máy, họ tới đây thẳng từ trường học với nguyên những bộ đồng phục áo trắng và quận màu sậm. Họ tụ tập dưới những tấm biển “Lớp Anh ngữ căn bản dạy tại đây.” Một chú học sinh giải thích: “Chúng tôi không muốn nói tiếng Pháp như các ông bà già. Bây giờ phải là tiếng Anh ... ngôn ngữ để giao dịch.”

Tôi theo chân các cô cậu học sinh bước vào trong một căn phòng kê đầy những bàn học và trên tường thì vẫn nhởn nhơ những con rắn mối. Thầy giáo tên là Ney Youda, là một người đàn ông trẻ và cũng là nhà báo. Anh ta đã mở lớp học như vậy trong 2 năm. Anh ta khòm người trên cuốn sách, đọc tiếng Anh bằng một giọng đứt quãng về môät câu chuyện có tên là “Buổi sáng ngày sinh nhật của Margaret Priesley.” Khi anh vừa bắt đầu thì ngọn đèn điện duy nhất tắt phụt khín cả phòng tối om. Không có ai kêu la gì. Ngay sau đó có hai cô học trò đứng dậy châm ngọn đèn dầu treo trên tường. Trong giờ học tiếp theo khi cả lớp đang học về tính đoan trang của một cô nữ sinh Anh và một ngày đặc biệt của cô ta, thì bất chợt ngọn đèn điện sáng trở lại nhưng cũng không kéo dài được mấy phút. Ney Youda nói: “Đêm nào cũng như vậy. Nhưng năm ngoái chúng tôi còn không có chút điện nào hết. Nhưng thôi, bây giờ anh dạy chúng tôi một lúc đi.”

Bị quá bất ngờ, tôi chọn đại một câu bất chợt tới trong óc, đó là: “Ngòi bút có sức mạnh hơn lưỡi gươm”. Tôi viết câu đó trên bảng đen. Sau khi tập đọc lai nhiều lần, đám học sinh hỏi tôi câu có là nghĩa gì. Tôi trả lời là: “Những cuốn sách có thể dạy chúng ta nhiều điều mà súng đạn thì không.” Tôi nghĩ tới những cánh đồng chết và không biết tôi có thuyết phục được gì không. Rồi lớp học kết thúc, học trò lần lượt bỏ lên bàn 150 riel - khoảng vài hào, và rồi vội vã về nhà - có lẽ mấy chữ mới học được ấy sẽ đưa họ tới gần một đời sống tốt đẹp hơn chăng.

Đường phố Nam vang thì luôn luôn tấp nập nhưng đông nhất là khu Prachem Ben trong ngày lễ Vu lan. Trong cái nóng kinh người, đủ loại xe hơi xe gắn máy xe đạp cùng đổ về những ngôi chùa trong thành phố. Từ phía bên ngoài khu chùa chính Ounalom gần mặt sông, Men Saman tên người hướng dẫn giải thích cho tôi về ý nghĩa của ngày lễ: “Những người chết về chùa trong ngày này để tìm gặp lại gia đình. Nếu không gặp được người thân thì gia đình sẽ bị quở trách và họ sẽ làm ăn khó khăn.”
Chúng tôi đi qua những bàn tay chìa ra của đám người ăn mày, đa số trong bọn là những thương phế binh bị què cụt bởi mìn; có cả những em bé trôi rạt từ những làng xã phía nam ngập lụt như những khu ao hồ lớn trong mùa hè nước lũ.

Chúng tôi đi theo dòng người vào chùa, đa số là phụ nữ với y phục là những chiếc váy sarong sậm và áo cánh trắng. Họ mang những chiếc khay với cơm sôi chuối gà cá các loại bánh và trứng. Trong chùa mát dịu với trần nhà cao; họ tới đặt khay thức ăn dưới chân những nhà sư để được đọc tên những người thân đã quá cố đồng thời nghe đọc lời cầu nguyện cho mỗi người.

Phải nhắc tới tên mọi người chết tôi nghĩ không khí sẽ sầu thảm đến chừng nào. Nhưng không, nhiều gia đình sau khi làm lễ cúng dường, họ ngồi phân tán trên nền nhà, dưới cái nhìn từ bi của bức tượng Phật vĩ đại, họ vui vẻ ăn và chuyện trò như buổi du ngoạn ngoài công viên. Một số gia đình khác thì tươi cười đứng chụp hình trên những bậc thềm trước chùa. Một bà cụ nhìn thấy tôi, đem cho một tô cá nấu càri và bảo “Ăn, ăn đi chứ,” Tôi chia phần ăn với bà cụ, sau đó trước khi tạm biệt cụ ngỏ lời chúc tôi được sống lâu. Dĩ nhiên đó chỉ là tập tục chúc tụng cổ truyền của người Cambốt, nhưng dầu sao với các điều tai nghe mắt thấy về những năm bạo tàn của Khmer đỏ, lời chúc ấy vẫn khiến tim tôi đau nhói.

 

VIỆT NAM VỚI CHÍN CON RỒNG SÁNG.

Qua 2000 dặm suôi chảy, trước khi đổ ra biển khơi con sông Mekong trở nên thuần thục không còn cuộn sóng, chỉ có tản mạn những làng mạc ở hai bên bờ con sông ấy.

Vào tới lãnh thổ Việt nam, con sông bắt đầu tràn lan và trở nên thật phong phú, gồm hai nhánh chính mà người Việt gọi tên là Tiền giang và Hậu giang chảy qua một vùng châu thổ rộng khoảng 15 500 dặm vuông, mênh mông và ẩm thấp, tại đây con sông lại chia thêm nhánh, gồm bảy nhánh chính trước khi đổ ra biển Nam hải. Còn hai nhánh nữa đã bị lấp khuất từ nhiều năm nhưng người Việt nam vẫn giữ con số 9 như con số hên nên vẫn gọi tên con sông là Cửu long, nghĩa là 9 con rồng.

Còn vô số những sông lạch chằng chịt ra vào các nhánh sông Cửu long ấy, chiều dài của thủy lộ này lên tới 2000 dặm, gần bằng chiều dài của chính con sông Mekong. Đây là mạng lưới thủy lộ giao thông chính và tưới bón cho cả vùng châu thổ. Việt nam là quốc gia đông dân nhất vùng Đông nam Á và khoảng 1/5 của dân số 70 triệu sống trong vùng châu thổ sông Cửu long, đứng hàng thứ ba trên thế giới về xuất cảng lúa gạo, chiếm một nửa tổng số lúa gạo sản xuất trong xứ.

Tôi đến thị xã Phụng hiệp cũng là trung tâm vùng đồng bằng vào ngày họp chợ. Đây cũng là nơi bảy nhánh sông gặp nhau, với bao con thuyền độc mộc chở đầy trái cây: chuối, dừa, dưa, dứa... cùng đổ về. Mỗi con thuyền do một người đứng ở phía đuôi vừa chèo vừa lái hướng về các con thuyền buôn lớn để trả giá trao đổi những món hàng. Ở xa trông giống như đàn chó con quấn quýt bám lấy chó mẹ. Trên mỗi chiếc xuồng nhỏ đa số là phụ nữ với khuôn mặt khuất sau những chiếc nón lá. Túm tụm lại với nhau quang cảnh trông giống như một cánh đồng nấm trên mặt nước.

Tôi hỏi Niệm, tên người thông dịch: “Tại sao có nhiều phụ nữ như vậy?” “Vì các bà các cô mới có kiên nhẫn để trả giá, ông thấy họ đang chạy quanh để tìm được giá hời nhất,” trong khi đó thì con thuyền chúng tôi phải lách tới tới lui để khỏi đụng vào những chiếc ghe khác.

Đi sâu vào con lạch khoảng một dặm chúng tôi tới thăm một nông trại. Người lái đò đẩy thuyền vào bờ lạch rậm rạp những cây cọ. Trước khi nhảy ra khỏi ghe, biết trước mặt đất sẽ bùn lầy tôi xăn cao ống quần trước. Niệm và tôi leo lên một bờ sông dốc trơn trợt khi tới được một căn nhà gỗ của Lư văn Hạnh.  Hạnh vừa từ ngoài ruộng trở về và được mấy đứa con trai đỡ lên giường. Hạnh bị cụt hai chân từ trên gối. Khi thấy tôi nhìn vào hai mỏm chân cụt, Hạnh nói: “Tôi có thể làm việc như mọi người. Tôi có thể trèo cây, đào rạch quanh ruộng để có thể di chuyển bằng xuồng nhỏ mà khỏi phải đi bộ. Ở trên ghe tôi có thể tự mình xoay trở qua lại.”

Hạnh bị cụt hai chân khi còn là một người lính cũ của miền Nam       trong vùng đồng bằng sông Cửu long trước đây. Anh nói: “Quá khứ của tôi không bị nhà nước cộng sản trù dập, thấy tôi chịu khó làm việc cực nhọc, họ vẫn cho tôi vay vốn làm ăn.”

Sau chiến tranh, nhà nước muốn phục hồi mức sản xuất nông phẩm trong vùng, họ khuyến khích tái định cư. Rồi từ năm 1980, chính sách nông tác tập thể được bãi bỏ, nông dân được quyền tư hữu hóa trở lại và mức sản xuất được bung ra.

Với hơn hai mẫu ruộng, Hạnh có thể làm ba vụ mùa mỗi năm. Con sông Mekong không phải chỉ đem nước vào tưới ruộng mà còn mang tới lớp đất phù sa màu mỡ trong những mùa nước lũ cùng tôm cá vào trong các ao. Chỉ riêng năm ngoái Hạnh thu hoạch được hơn 300 ký lô tôm. Hạnh nói: “Tôi tới đây với hai bàn tay trắng. Sau chiến tranh thì đây là vùng đất bỏ hoang. Tôi phải đào mương vàvỡ đất. Lúc đó tôi là người nghèo nhất trong vùng. Nhưng bây giờ thì tôi bắt kịp mọi người và còn có thể hơn một số người khác.”

 

Tương truyền rằng vào khoảng hai thế kỷ trước trong thời vua Gia long có một vị quan từ triều đình Huế đi vào tham quan vùng Đồng Tháp với rậm rạp những cây tràm và lau sậy. Khi trở về vị quan trình rằng: “Phải coi chừng lũ cá sấu... đỉa...ma quỷ và cả thần linh.” Ma quỷ bây giờ đối với người Việt ở đây là “chiến tranh đế quốc Mỹ,” với hậu quả là 4 triệu người, ngót một phần mười dân số bị chết hay tàn phế.

Người tỉnh ủy viên Đồng tháp tên là Mười Nhe đãvề hưu, trước từng là sĩ quan trong quân đội Việt cộng bị chột mắt vì lựu đạn, nói với tôi: “Đồng Tháp Mười là một khu ẩn náu lý tưởng, hồi đó chúng tôi không sợ gì hết ngoài chiến tranh hóa học, chúng tôi hoàn toàn bị bó tay.” Để xua Việt cộng ra khỏi vùng, người Mỹ đã cho đào kênh mương để tát cạn các đầm lầy, rồi cho máy bay rải bom Napalm và chất khai quang để diệt hết cây cỏ... Sau chiến tranh Đống Tháp vẫn còn hoang dã nhưng hoàn toàn bị nhiêãm độc.” Ông kể lại khi còn làm Tỉnh ủy, ông đã thực hiện kế hoạch đắp đê dẫn nước và trồng lại các khu rừng ra sao.

Ban đầu chúng tôi định di chuyển bằng xe nhưng do lũ lụt đã lấp sạch các đường sá, chúng tôi phải dùng thuyền di chuyển; trong ban đêm người tài công phải cẩn thận len lách qua những lưới cá chỉ được làm dấu tù mù với những ngọn đèn bằng khí đốt.”

Sáng hôm sau tới được Trạm chim, được bảo trợ tài chánh một phần bởi Hiệp hội Bảo tồn Hoa kỳ. Ở đây tôi đã thấy được một số kết quả trong nỗ lực phục hồi ấy. Cùng đi với tôi là nhà nghiên cứu chim tên Võ Quý thuộc đại học Hà nội. Chiếc ghe  của chúng tôi đi lách giữa những lùm lau sậy rậm rạp, gây động khiến những con diệc xám hốt hoảng phải cất cánh tung bay. Tiến sĩ Võ Quý chỉ vào một đàn vịt đang bay qua trên đầu, rồi vểnh tai lắng nghe tiếng con chim bói cá. Tôi phải thốt lên: “Thật tuyệt đẹp.” Võ Quý bảo nếu tôi trở lại đây trong vòng 2 tháng nữa, khoảng vào tháng Giêng, tôi có thể thấy những đàn hạc bay tới từ hướng đông, đó cũng là đàn di điểu cuối cùng của vùng Đông nam Á. Bây giờ có hàng ngàn những con sếu đầu đỏ cao năm bộ sống trong Trạm chim hàng ngày đi kiếm thức ăn chủ yếu là cá. Võ Quý còn nói thêm: “Với người Việt nam, thì giống hạc là biểu tượng cho sự sống lâu và tuổi thọ.”

Quân đội Mỹ xử dụng chất Da cam giữa khoảng 1962 tới 1970 nhằm phá hủy các xào huyệt ẩn núp của cộng quân. Chất Da cam có chứa độc tố Dioxin, được biết có tác hại trên cơ thể. Chất độc tố này vẫn nằm trong lòng đất và trong cơ thể những người dân vùng đồng bằng sông Cửu long. Các khoa học gia Việt nam thì tin rằng các dị tật bẩm sinh, hư thai, rối loạn thần kinh và cả một số dạng bệnh ung thư phần lớn có liên hệ tới chất Da cam. Trong khi các chuyên gia người Mỹ thì thận trọng cho rằng các khảo sát ấy thô sơ và không thể đưa tới kết luận nào. Nhưng họ thấy mức độ chất Dioxin vẫn có cao hơn trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Nhưng đối với một số người dân ở đây thì các lý luận khoa học ấy là vô nghĩa. Ngay trong thị xã Cà mau, phía nam đồng bằng sông Cửu long, tôi được giới thiệu gặp ông Lâm Nhạc Trung 61 tuổi với đôi mắt sậm sau làn kính như xoáy vào người đối diện. Ông thuộc bang hội người Hoa sống bằng nghề thảo bút tự cho các gia đình Trung hoa khác.  Cửa hiệu của ông nằm trên một nhánh sông phụ của con sông Mekong. Ông ta dẫn tôi vào một buồng trong và chỉ cho tôi thấy đứa con trai 25 tuổi, nằm trên một chiếc giường nhỏ với thân hình tàn tạ và co quắp, lưỡi thì thè ra chỉ nghe có tiếng rên. Tôi chú ý tới phần còn lại là đôi bàn tay thon đẹp với móng tay thì được bà mẹ tô màu sơn đỏ. Ông Trung không nhớ rõ thảm họa đã tới vào năm nào - có lẽ khoảng 1968 hay 1969? nhưng ông thì không bao giờ quên được cái ngày hôm ấy. Một chiếc máy bay lớn bay lượn trên làng thả ra từ phía sau 4 làn khói trắng phủ mù xuống mặt đất. Ông ta kể lại: “Chỉ vài giờ sau thì cây cỏ héo rũ, bảy ngày sau tất cả lá cây đều rụng xuống. Bốn đứa con của tôi lúc đó đang chơi ngoài sân, chúng nó đều bị sốt. Chỉ trong vòng hai năm sau, ba trong bốn đứa bị chết, ngoại trừ thằng con trai hiện giờ, vì lúc đó nó còn quá nhỏ chỉ mới vài tháng. Nhưng từ suốt 15 năm qua nó hầu như liệt giường, không thể tự tắm rửa chăm sóc. Nó mới đau tưởng chết hồi tháng rồi; không làm gì có thuốc men mà chỉ có vài thang thuốc cổ truyền.”

Với các chuyên gia y tế khác thì cho rằng tình trạng ấy không liên hệ gì tới chất Da cam mà do các nguyên nhân khác. Nhưng với người dân ở đây thì tiếp tục đổ lỗi và lên án chất khai quang gây nên những căn bệnh kỳ quái ấy. Ông Trung nói: “Tôi muốn câu chuyện này phải được kể lại; và người ta phải tìm cách cứu giúp những người dân vô tội hoạn nạn vì cuộc chiến tranh.” Khung, tên đứa bé trai, bắt đầu  rên nấc, ông Trung tới giúp nó trở mình. Ông kéo tấm mền đắp che tấm thân thể co quăép của nó chỉ để chừa lộ ra đôi bàn tay còn đẹp đẽ ấy.

 

Từ Cà mau, tôi chỉ còn cách biển khơi khoảng 35 dặm. Ban đầu tôi muốn được ra biển bằng một con tàu nhổ neo từ Cần thơ nhưng tôi đã bị các viên chức chính quyền từ chối không cho phép. Bây giờ thì tôi thử tái thực hiện dự định ấy nhưng là khởi đi từ Cà mau, phía nam của đồng bằng sông Cửu long.

Niệm là người thông dịch và cũng là người canh chừng tôi, hối hả chuẩn bị chiếc thuyền gỗ dài 70 bộ và chạy bằng một máy kéo. Hai bên cạnh mũi thuyền có vẽ hai con mắt. Chúng tôi đi xuyên qua khu rừng U minh, mà tôi được biết đã trơ trụi trong thời chiến tranh; được trồng trọt lại nhưng nay lại sắp trơ trụi trở lại vì vô số thuyền bé tấp nập tới đây để đốn củi.

Xa hơn về phía nam, từng mảng rừng bị cắt quang, và người ta đào hào để nuôi tôm: loại tôm xứ lớn sản xuất không đủ để cung cấp cho Nhật bản. Làng chài lưới Nam căn đã bộc phát do kỹ nghệ tôm. Chúng tôi ghé vào thăm Xưởng  Sản xuất  Tôm số 29, do nhà nước quản lý. Tới đúng vào giờ nghỉ, hơn 800 công nhân ào ra cửa. Tôi được cho biết lương mỗi đầu người hàng tháng là 300 ngàn đồng khoảng 25 đô la, gấp đôi lợi tức bình quân trong cả nước.

Nguyễn Trường Giang, 29 tuổi là phó giám đốc xí nghiệp cho biết: “Chúng tôi có các khách sạn, nhà hàng, trường trung học, cả đường dây điện của nhà nước cũng đã tới được đây. Dân số trong quận thì tăng gấp đôi, khoảng 82 ngàn người.”

Nam căn trông quả là giống một thành phố bội phát. Ban đêm quanh các khách sạn quán bia rập rìu đĩ điếm với y phục hở hang. Nhạc giật phát oang oang từ những chiếc máy phát thanh. Đám đàn ông trai trẻ kéo nhau đi dọc theo bờ sông tìm thú vui hấp dẫn.

Nhưng có mối hiểm nguy rình chờ. Vào một buổi sáng trong xưởng tôm với 700 nữ công nhân trong đồng phục trắng đang làm công việc rửa và lựa tôm trên những mặt bàn bằng kim loại, thì bất chợt mọi người phải ngưng mọi công việc để xem một cuốn phim phòng ngừa bệnh AIDS. Viên quản lý cho biết đã có một vài trường hợp bệnh xuất hiện. Nhưng trở lại vào ban đêm thì cảnh trí sinh hoạt vẫn như vậy - bệnh AIDS chỉ còn là mối hiểm nguy bên lề của cuộc sống.

 

Đi về phía nam của Nam căn, tôi ngửi thấy mùi muối trong không khí và cả nếm thấy vị mặn trong những hạt nước nhỏ tung tóe nơi đầu mũi thuyền. Trước khi ra biển, Niệm quyết định dừng lại trước đồn công an kiểm soát. Bốn viên công an bước xuống thuyền cho biết chúng tôi có thể tới gần cửa biển nhưng không được đi vào và cũng không đưa ra giải thích tại sao. Tôi bất bình nhưng không ngạc nhiên. Du hành trên sông Mekong ngay từ chặng đầu tiên đã là chuyện rủi may. Ngoại trừ Thái lan, nước nào cũng hạn muốn hạn chế người Tây phương tới với con sông Mekong. Họ cảm thấy bất an khi con sông dũng mãnh ấy như không thể kiểm soát được.

Chúng tôi tới gần cửa sông khoảng một phần tư dặm, đủ gần để thấy đầy những lưới cá với những cây sào cắm và cả thấp thoáng  thấy phía bên kia là vịnh Thái lan. Và rồi công an ra lệnh thuyền phải quay trở lại.

Trở về Cà mau vào buổi chiều tà, với những con dơi lớn bay trên nền trời xám. Những con diệc kiếm ăn đêm thì bay về phía những đồng lầy. Chẳng mấy chốc chúng tôi lại chen lách trở lại giữa đám ghe thuyền của những người đi đánh cá, cắt củi, người đi họp chợ và cả những các em học sinh: tất cả lại cùng chan hòa vào nhịp điệu thân thuộc bấy lâu của con sông Mekong.

Trong bóng đêm người ta có thể tạm quên đi bóng dáng của chiến tranh và những bất ổn đã không ngừng đổ xuống khắp vùng đất cổ xưa này, và rồi tưởng tượng rằng con sông Mekong giống như một con rồng sáng lạn vẫn tuôn chảy dũng mãnh nhưng hiền hòa, cống hiến đời sống cho xuyên suốt cả một vùng Đông nam Á châu.

 

The Mekong River, by Thomas O’neill

Photographs by Michael S. Yamashita.

(Bản tiếng Việt của Tâm Bình)