XUÔI DÒNG SÔNG
THOMAS O’ NEILL – Bản dịch Tâm Bình
Hơn một trăm năm
trước, một đoàn thám hiểm Pháp trong đó có Francis Garnier đã khởi
hành từ Sài gòn (1866) “Ngược Dòng Sông Mekong”để tìm một thủy lộ
giao thương với Trung Hoa nhưng họ đã thất bại. (Đi Tới 37) Và con sông
TÂY
TẠNG: NGUỒN SÔNG TỪ NÚI THIÊNG.
Ở độ cao 15
ngàn bộ trên cao nguyên Tây tạng, chẳng có một chốn nào để mà ẩn
trú. Tuyết thổi bay như những mũi tên. Meiga, tên
người du mục Tây tạng vẫn kéo ngựa đi qua cơn bão tuyết và vẫn vô
vọng tìm kiếm một khe đất cho chúng tôi trú ẩn. Khi tầm nhìn xuống gần số không, chúng tôi chỉ còn cách
dừng lại buộc ngựa, chúi đầu ngồi chụm lại với nhau, để mặc cho cơn
bão hành hạ.
“Đó là điềm lành”, Meiga đã nói vậy trong khi để lộ khuôn
mặt sẫm với gò má cao cho những bông tuyết tới tấp đập vào. Anh ta nói tiếp: “Khi các anh tới gần núi thiêng, thì thời
tiết thay đổi đột ngột. Và nguồn sông không còn
cách đây bao xa.”
Chờ cho những
cơn gió thốc dữ dội qua đi, ngồi nhai miếng bò khô do Meiga đưa cho,
tôi nghĩ tới chặng đường bao xa để tới được nơi đây, và phải còn bao
xa nữa để đi tới.
Mục đích của
tôi là đi suốt dọc theo chiều dài sông Mekong, con sông có chiều dài
đứng hàng thứ bảy ở Á châu và hàng thứ 12 của cả thế giới. Con
sông bắt đầu đâu đấy trong vùng núi tuyết này và kết thúc ở
khoảng 2600 dặm nơi vùng biển ấm
Để tới được nơi
đây tôi đã phải băng qua hàng ngàn dặm trên một chiếc xe Jeep nhà
binh cũ từ Xining, thủ phủ của tỉnh
Những người du
mục đó đã theo dõi khi chúng tôi tới và vào
buổi chiều cùng ngày họ mời chúng tôi tới lều họ. Đó là một nơi
ám khói, thiếu ánh sáng với chồng chất những túi ngủ được xếp vào
một góc. Tôi gặp Meiga, và người vợ là Daji tóc để dài trang sức
với vỏ sò và những mảnh kim loại bằng bạc
đập vào nhau leng keng khi đi, thêm sáu đứa con và cả người anh vợ
tuổi đã già tên Bucairen móm hết cả răng.
Người vợ mời
chúng tôi ăn bánh, giống như loại bánh xếp làm bằng bột lúa mạch,
trong khi Bucairen thì giót trà muối nóng sôi vào trong những chiếc
tách. Chúng tôi bắt đầu hỏi anh về cội nguồn con sông
“Có hai nguồn
lựng,” anh
vừa nói vừa nhúm thêm lửa bằng những miếng phân bò khô, những cụm
khói làm chảy cả nước mắt chỉ thoát ra được bằng một lỗ thông trên
nóc. “Một nguồn từ núi cao trên đỉnh băng giá; không
có một ai đặt chân tới đó. Và còn một nguồn thần linh, thì ở
phía sau ngọn núi thiêng.”
Meiga nói thêm:
“Bọn du mục chúng tôi tin có một vị thần linh là một con rồng tên
Zjiadujiawangzha, sống trên ngọn núi thiêng và bảo vệ cho nguồn nước an lành. Chúng tôi tin rằng nếu uống được nguồn
nước ấy người ta sẽ sống lâu. Thú vật nếu uống vào
cũng vậy. Nước sông ấy chính là máu chảy trong
cơ thể chúng ta.” Anh cũng đồng ý sáng sớm hôm
sau sẽ dẫn chúng tôi tới vùng núi thiêng cách 25 dặm về hướng bắc.
Tảng sáng chúng
tôi cột đai yên ngựa với những ngón tay tê vì
lạnh cóng. Những con ngựa Mông Cổ to vạm vỡ với những bờm lông dài
bay tả tơi trước gió. Meiga chạy nước kiệu phía trước
chúng tôi. Cưỡi trên lưng con ngựa hoe đỏ, khuôn mặt Meiga thật
sinh đôäng với chiếc ghim bạc cài sau dải tóc đen, con dao găm với
cán chạm ngọc dắt nơi thắt lưng chiếc áo bằng da cừu.
Chúng tôi cưỡi
trên những con ngựa đi lặng lẽ, chỉ có âm thanh của chuông ngựa gõ
nhịp và những tiếng móng chân ngựa nghiền trên lớp cỏ tuyết giá.
Thảo nguyên bao quanh bởi những đỉnh núi tuyết Tanggula dọc theo biên giới Tây tạng và tỉnh
Và rồi chúng tôi như
bị phục kích bằng một cơn bão tuyết tới thật bất chợt. Chúng tôi chỉ
còn biết núp sau những con ngựa và đoán chừng có lẽ chúng tôi phải
quay trở về. Nhưng rồi cơn bão cũng bất chợt qua đi giống như đã bất
chợt đổ tới, để lộ ra một bầu trời xám chì. Người
và ngựa lai đi thêm một tiếng đồng hồ nữa thì tới một ngọn đồi cô
quạnh hình tháp nhọn. Meiga bảo: “Đây là ngọn núi thiêng,” anh
ta moi từ một chiếc túi bên hông ngựa một bó giấy màu có in những
dòng Kinh Phật. Anh reo vui tung cao những trang
giấy kinh và hân hoan nhìn chúng cuốn theo chiều gió.
Và cũng sắp đến lượt tôi phải hân hoan reo hò. Chúng tôi di chuyển nơi phía sau ngọn núi
và thấy một dải băng dài cỡ 300 thước Anh có hình thù thắt lại như
thứ đồng hồ cát. Nghiêng cúi xuống mặt nước đá, tôi có thể
nghe thấy tiếng nước chảy róc rách. Đó là những âm tiết đầu tiên
của con sông
TRUNG
QUỐC: CON SÔNG CUỒNG NỘ.
Từ nguồn này,
con sông Mekong chảy ngót một nửa chiều dài trên lãnh thổ Trung
quốc, rồi chảy theo biên giới hay qua Miến điện, đi xuống các nước
Lào, Thái lan, Cam bốt và Việt nam. Tôi cũng biết được rằng con sông
mang nhiều tên khác nhau: sông Thạch hà, sông Long phi, sông Bất kham,
sông Mẹ Khong, sông Đại thủy, sông Cửu long. Con sông ấy đã chảy
dọc theo những đế quốc, những vương triều,
những thuộc địa qua các giai đoạn thăng trầm, nối tiếp bằng hình
thành những quốc gia đắm chìm trong chiến tranh và máu lửa. Chết chóc và khổ đau như là định mệnh của vùng đất ấy.
Qua suốt chiều
dài con sông
Nhưng đồng thời tôi cũng khám phá ra rằng tình cảnh đang có
những đổi khác. Sau nửa thế kỷ của bom
đạn, đây cũng là lần đầu tiên trong vùng im tiếng súng. Các chánh
phủ bâáy lâu vẫn cô lập cùng với đám dân chúng nghèo khổ của họ,
thì nay bắt đầu mở cửa biên giới, tìm đầu tư ngoại quốc để phát
triển. Con sông
Khi nhìn lại con
sông khoảng một trăm dặm dưới nguồn trong thị trấn bụi bặm Zadoi, có
thêm hàng chục nhánh sông khác từ những đỉnh núi cao đổ vào, biến
dòng nước băng giá thành một cuồng lưu mênh mông trải rộng với phù
sa đục ngầu.
Với chiếc xe Jeep bị hư nhíp, chúng tôi đi vào thị trấn Zadoi lúc
buổi chiều. Người tài xế bóp còi để tránh đàn bò và những người
đi xe đạp. Khu phố chỉ gồm rải
rác những căn nhà vách đất và ít tòa nhà hành chánh màu xám trông
giống như những trại lính.
Các bà già tay lần chuỗi hạt. Đám đàn ông trẻ
ngồi ăn nhậu ngoài hè quán. Họ cười lớn khi có toán đàn ông
khác vác xẻng đi qua trên đường trở về nhà tù sau một ngày lao động.
Một viên chức lên tiếng xin lỗi chúng tôi vì tình trạng
thiếu tiện nghi và thiếu cả phương tiện giải trí. Tuy nhiên anh ta khoe là 75% các căn nhà đã
có máy truyền hình, với hai đài từ Bắc kinh được tiếp vận qua vệ
tinh mỗi buổi chiều. Chúng tôi ngủ trong căn
nhà vãng lai của tỉnh. Căn buồng có năm giường
với nền bằng ximăng và một lò sưởi than. Vì bị
mất điện, tôi phải đọc bằng ánh sáng từ chiếc đèn pin nhỏ.
Ngày hôm sau
chúng tôi tới thăm tu viện Zao Qin cổ kính có từ 500 năm trước, nằm
bên một triền núi phía dưới dòng. Tôi gặp một nhà sư với chiếc áo
cà sa màu đỏ xậm. Ông cho biết tu viện có
khoảng 50 nhà sư tu
tập về giáo lý Phật giáo Tây tạng. Tu viện này
cũng như ở các nơi khác từng bị đóng cửa suốt 10 năm trong cuộc cách
mạng văn hóa và chỉ được mở lại từ năm 1979.
Khi chúng tôi tới giảng đường, thì một người đàn ông râu
bạc trắng chống gậy đi về phía chúng tôi. Ông tên là Tudinangjia và cũng là vị sư
trưởng. Ông vào tu viện năm 8 tuổi, lên tước vị sư trưởng năm
28 và nay tuổi đã 70.
Nhiều tăng ni trẻ theo chúng tôi vào giảng đường, người nào
đầu cũng trọc lốc, mặt mũi lem luốc, dáng vẻ tò mò, trông thơ ngây
và e thẹn giống như những chú hướng đạo sinh. Vị sư trưởng thiền tọa
trên một chiếc bục thấp, đôi mắt sáng rỡ và trẻ trung. Ông giảng
cho chúng tôi biết ngày của các tăng ni bắt
đầu từ rạng đông, mọi người đọc kinh, học giới pháp và cầu nguyện.
Nhiệm vụ vị sư trưởng là “yêu thương chúng sinh, thông
tường kinh kệ để có thể rao giảng.”
Khi theo xuống chân đồi, tôi hỏi một vị sư khác là khi
sư trưởng Tudinangjia viên tịch thì sự thể sẽ ra sao. “Thầy
sẽ được hỏa thiêu. Còn các vị sư khác sẽ được
thiên táng,” ông ta giải thích thêm, thân xác được chặt thành những
mảnh nhỏ và để ngoài sân cho bầy kên kên tới ăn. “Đó là
đức tin của chúng tôi, là thân xác của nhà sư sẽ trở thành tặng vật cho những
sinh vật khác.”
Vị sư chỉ ra phía
sân của tu viện, nơi có dăm ba chú kên kên đen xám bẩn thỉu đang mổ
những khúc xương. Ông giải thích: “Đó là những khúc xương bò, chúng
tôi nuôi chúng ăn để chúng lai vãng nơi đây. Và
chúng sẵn sàng có mặt khi chúng tôi cần.”
Tôi bị mất hút khúc sông
Họ bắt chúng
tôi phải đi vòng, sau này tôi mới hiểu được rằng họ không muốn
người ngoại quốc chứng kiến những địa điểm đóng quân hay những phong
trào chống đối có thể bộc phát ra ở trong vùng nhân dịp kỷ niệm 40
năm ngày Trung quốc chiếm đóng Tây tạng.
Khi bắt đầu lại
cuộc hành trình từ Vân nam tôi mới nhận ra rằng thật khó mà đi dọc theo con sông. Không có đường xá để
đi tới đó. Có vài con đường mòn men tới gần con sông nhưng
thường là kết thúc trên bờ vực nhìn xuống con nước chảy xiết. Đưa
tầm mắt nhìn khoảng 20 dặm về phía tây trung tâm mỏ chì Lanping, là
con nước cuồng nộ đổ từ thành cao xuống vực sâu ba ngàn bộ. Chỉ có vài chiếc cầu đơn giản bắc qua đó. Có nơi chiếc cầu chỉ là sợi dây cáp treo băng qua.
Tôi thấy người lớn và cả trẻ em ở làng bên đu mình trên sợi dây
ấy để qua bên kia dòng nước bạc.
Chiếc cầu xưa
nhất mà xe có thể chạy qua thuộc vùng Baoshan
gần biên giới Miến điện. Đó là chiếc cầu Gong Guo
bằng sắt được dựng lên khoảng những năm 30 để giao thông tiếp vận
từ Miến điện tới vùng đồi núi hậu trạm là bên Trung hoa trong Thế
chiến thứ hai.
Các viên chức Trung quốc tin rằng chiếc cầu này cũng là
trạm giao liên của giới buôn ma túy từ Miến điện vào Trung quốc. Không thấy có trạm kiểm soát nơi đầu cầu nhưng công an thì trấn đóng trên các con đường đèo. Trong một
tiếng đồng hồ, tôi chỉ thấy vỏn vẹn có hai chiếc xe
vận tải cũ rầm rì qua cầu.
Khoảng 125 dặm
từ con cầu suôi xuống là chiếc đập chắn ngang sông
Phía trước và sau là chằng chịt các giàn gỗ với li ti hình
dáng những công nhân xây cất đập đang làm việc trên đó. Với những ống dẫn nước cao 40 bộ đục qua
khe núi. Dòng sông trông thuần lành như con chó bị cột xích đưa
vào ống dẫn để rồi bất chợt lại vùng vẫy sủi bọt khi bị giam hãm
trong đó.
Đây là đập
Manwan sẽ hoàn thành vào năm 1995 (bài viết 1993) với dự trù sẽ cung
cấp 1500 megawatts điện cho các khu mỏ mới và khu kỹ nghệ Kunming gần
thị trấn tỉnh Vân nam.
You Wan Long
người giám đốc công trường nói: “Con sông này giống như khu hầm mỏ
giàu có với lưu lượng nước thì khổng lồ.” Trong
khoảng ba thập niên tới Trung quốc hy vọng xây thêm tám đập nữa
trên sông
Từ Jinghong
khoảng 30 dặm từ biên giới phía nam, tôi nhận ra là mình đã tới vùng
khí hậu nhiệt đới, với chợ búa bày bán đầy những trái đu đủ, trái
dừa và dứa. Các phụ nữ sắc tộc Dai (Thái?) mặc
những chiếc áo sặc sỡ hình chim bướm đủ màu vàng xanh đỏ.
Dân làng thay vì
sợ hãi né tránh thì nay sống chan hòa với con sông ấy. Trẻ con phóng mình từ bờ cao xuống dòng sông. Phụ
nữ thì giặt rũ, gội đầu trong dòng nước ấy. Vài người với chiếc
váy sarong phồng hơi bơi lội tung tăng trong làn
nước ấm xen giữa những tàu lá xúng.
Tại Jinghong vào
một buổi chiều, tôi theo đám người đi xe đạp ra
phía cầu sông để hóng mát. Phía dưới cầu là những
người đàn ông và trẻ em đang lượm vớt những khúc củi gỗ trôi để
đem bán.
Ai Zhen, viên
chức hướng dẫn nói: “Trong vùng đất này không có gì bị bỏ phí.” Tôi cũng nghĩ như vậy. Khúc sông
MIẾN THÁI LÀO VÀ KHU TAM GIÁC VÀNG.
Rời khỏi lãnh
thổ Trung quốc, chạy theo ranh giới Miến điện
và Lào rồi Thái lan. Đây cũng là ranh giới của cả
ba nước với khu Tam giác Vàng nổi tiếng thế giới là nơi trồng và
chế biến thuốc phiện. Từ lâu đây cũng là bản
địa của các lãnh chúa với các đàn lừa chở thuốc phiện có võ trang.
Khi tôi tới Sob
Ruak, một thôn ấp Thái bên cạnh sông Mekong ngay giữa vùng Tam giác
Vàng, đã từng là nơi trồng trồng trọt và chế biến thuốc phiện nổi
tiếng nhất thế giới. Tôi không còn trông thấy những đàn lừa mà chỉ
có những chuyến xe buýt lớn sáng choang với
đầy khách du lịch người Âu trên đó. Trên sườn đồi
là hai khách sạn nghỉ mát; một khách sạn thứ ba đang được xây cất
phía khu bên bờ thuộc Miến điện.
Giới quân sự Thái đã thanh toán đâåy lùi các khu chế lọc
và những đàn lừa chở thuốc phiện ra khỏi vùng. Để thay thế cho nền kinh tế thuốc phiện thì
bây giờ là du lịch. Du khách bay từ Bangkok tới
Chiang Rai, cách 40 dặm về phía nam Sob Ruak. Từ đó họ đi xe buýt tới đây. Vào mùa khô, từ tháng 11 tới
tháng 5, hai khách sạn lúc nào cũng chật ních.
Marc Cremoux,
viên quản lý bảnh bao người Pháp của khách sạn Baan Boran nói: “Sự
nổi tiếng cua khu Tam giác Vàng đã lôi kéo du khách tới đây. Tôi cũng nghe họ nói là từ nơi đây thuốc phiêän được gửi
đi. Rồi tiếng đồn lan xa. Tới đây người
ta tưởng đã tham dự vào cuộc phiêu lưu, cho dù là họ ở trong những
khách sạn 5 sao và đi trên những xe buýt có máy điều hòa không khí.”
Tội ác hay manh
nha của tội ác vẫn phải trả giá ở nơi đây.
LÀO
VÀ CON SÔNG GHỀNH THÁC.
Từ khu Tam giác
Vàng, con sông
Từ 1975, Lào bị cai trị bởi đảng Cộng sản Pathet Lào và gần đây có
chủ trương theo một đường lối bớt cứng rắn. Khúc sông tiếp giáp với
biên giới Thái được mở trở lại; với quy chế mậu dịch tự do và cho
phép nhận đầu tư từ ngoại quốc. Nhưng chính phủ Lào
thì vẫn không yên tâm khi tiếp xúc với các nhà báo Tây phương.
Một trong số ít
nơi mà chính phủ Lào cho phép tôi được thăm viếng trên con sông
Mekong là bờ sông ở phía bắc với vô số những tượng Phật, đông hơn
cả số người qua lại trong vùng trong cả tháng. Có khoảng 7000 tượng
Phật trong khu hang Pak Ou với thành lũy cách thủ phủ cũ Louangphrabang khoảng
22 dặm về phía thượng nguồn.
Kéo thuyền lên
bờ, tôi theo chân Thong Chanh tên người hướng
dẫn leo lên những bậc thềm dốc. Chúng tôi đi vào
một khu dịu mát và ẩm thấp mùi bùn. Có hàng trăm tượng Phật
không cao quá hai bộ, đặt trên bệ hướng mặt ra sông Mekong. Tất cả
đứng thẳng và yên tĩnh như một ban hợp xướng vĩ đại chuẩn bị sắp sửa
cùng cất tiếng hát.
Trước dãy tượng
Phật, Chanh cất bỏ chiếc nón dã cầu ra khỏi đầu và nói: “Vào thế
kỷ 16, dân chúng Louangphrabang khiêng hết các tượng Phật ra đây khi
kinh thành bị tấn công. Kể từ đó cứ vào dịp Tết Pi Mai mừng năm mới,
vào khoảng tháng 4 dân làng trở lại đây với hoa và nước thơm tắm
rửa cho những bức tượng.”
Đa số các bức tượng
bị mẻ hay rạn nứt và bị bao phủ bởi mạng nhện hay bụi đất. Nhưng
những nụ cười của tất cả bức tượng Phật xinh xắn ấy đã tỏa chiếu
xuống dòng sông màu nâu ấy một vẻ an tĩnh thái hòa, điều mà tôi
không thấy ở bất cứ đâu trên suốt thủy trình đầy bất an của con sông này.
Trở lại thuyền,
Chanh đề nghị tôi tới thăm Ban Don là ngôi làng
quê của anh. Khi
tới nơi, bên bờ sông thấy dân làng đang rãy cỏ và tưới cho những
luống hành, vườn khoai, bắp và luống cải. Nhưng
rồi tiếng cuốc rãy mau chóng bị lấn át bởi những tiếng búa đập
trên những thanh sắt. “Đây là làng thợ rèn.”
Chanh vừa giải thích vừa bước vội ngược lên con đường đất.
Anh gặp lại người cha đang ngồi xổm rèn một chiếc rựa từ
thanh sắt nóng. Những mảnh kim
khí nóng màu sáng bạc bắn tứ phía vào lưng vào ngực ông ta. Ông già
giải thích: “Tôi phải làm cho xong mười con rựa hôm nay, dân miệt
trong sẽ tới mua để có cái chặt tre đốn gỗ và làm rẫy.”
Nghe tiếng chúng tôi, bà mẹ Chanh từ trong nhà đi ra. Bà cười chậm chạp với nét mặt nhăn nheo tới sát mặt
Chanh: “Con đấy hả.” Bà cụ gần như mù, kêu con gái đem bánh nếp kao nom kok có
rắc dừa ra mời khách. Sau đó bà ngồi xệp ngay bên
ông chồng để phụ rũa một chiếc rựa chưa hoàn tất.
Chanh nói: “Ba
mẹ tôi làm việc rất cực mỗi ngày. Vụ cá năm nay
cũng lại mất mùa. Có thể nay mai tôi phải tìm cách giúp ổng
bà, nhưng hiện giờ thí chính tôi cũng rất thiếu thốn.”
Cách kinh đô cũ
khoảng 200 dặm, con sông Mekong lại bắt đâàu trườn ra và trở thành
đường ranh giới giữa Lào và Thái lan. Khoảng 100 dặm xuống xa hơn nữa
là thủ đô Vạn tượng, với những tòa nhà màu gạch và dân số khoảng
125 ngàn người. Đa số nhà cửa chỉ có một tầng.
Tôi thích được đi bộ theo dọc con sông vào những buổi sáng, ngắm
hàng đoàn thuyền nhỏ di chuyển trên sông giữa Vạn tượng và bến
cảng Nong Khai phía bên Thái cách đó chừng vài dặm. Những
con thuyền từ Lào với thúng mủng trống trơn trên đường tới Nong Khai
nhưng trên đường về thì chất đầy những hàng hóa mới. Cảnh sinh
hoạt như vậy bắt đầu từ năm 1989 khi có chính sách mậu dịch tự do. Một chiếc cầu nối liền hai nước sẽ được hoàn thành vào
năm 1994.
Trái với sự
hối hả của người Thái, chiếc phà vẫn tách khỏi bến khoảng 2 tiếng
để người Lào vẫn có thể có giấc
ngủ trưa. Vào khoảng 2 giờ chiều, phố xá sinh động trở lại với xe gắn máy và những người đi bộ. Các
bảng hiệu bằng tiếng Anh “Xuất Nhập Cảng” treo khắp nơi trong các khu
buôn bán. Từ năm 1987 nhà nước cho phép ngoại quốc được đầu
tư, thì đã có khoảng 225 công ty, đa số là những tổ hợp may mặc và
thương mại với số vốn đầu tư từ Thái lan.
Chanthao
Pathammavong, là chủ tịch Công ty Liên doanh của Lào. Cô vận một
chiếc váy theo lối y phục cổ truyền Lào và
cũng yêu cầu khách cởi giầy khi bước vào trong nhà. Đó là một
người đàn bà khoảng 45 tuổi, đã từng lam việc ở ngân hàng quốc gia
trung ương. Bà nói: “Chúng tôi còn phải học hỏi quá nhiêàu điều, như
vấn đề kiểm tra chất lượng, các luật lệ về tài sản, về vay vốn
dài hạn, về nghiên cứu thị trường. Bây giờ chúng
tôi được phép làm các dịch vụ sinh lợi nhưng nhà nước thì vẫn thu
phần lời quá cao tới 45%.”
Nơi phòng trưng
bày của công ty hướng ra mặt phố thấy các mẫu hàng nhập cảng từ
Thái lan: máy điều hòa không khí, máy photocopy,
máy bơm nước. Mẫu hàng xuất cảng gồm có mắm bò hóc, các loại da
bò sẽ được thuộc tại Thái lan.
Giống như những
người Lào khác, cô ta tỏ ý e ngại về ảnh hưởng tràn ngập của Thái
lan với dân số hơn 56 triệu và một nền kinh tế
thì rất năng động. Cô nói: “Chúng tôi không muốn mọi thứ đều phải
nhập cảng từ bên ngoài, chúng tôi mong xây dựng được một nền kinh
tế độc lập, nhưng phải cần một thời gian dài.”
Các chuyên gia thì tin rằng một thứ mà Lào có thề bán ra
ngoại quốc là thủy điện. Hầu hết tiềm năng điện của sông Mekong đều nằm trong lãnh
thổ nước Lào.
Gần đây Ủy ban
sông Mekong, cơ quan phát triển được sự tài trợ của Liên hiệp quốc
ở Bangkok đã đưa ra kế hoạch xây cất 4 đập thủy điện khổng lồ trên
sông Mekong. Đập Pa Mong cách 12 dặm
về phía bắc Vạn tượng, là dự án đầu tiên được cứu xét với ngân
khoản chi phí lên tới 2.8 tỉ Mỹ kim. Bể chứa của đập
sẽ dìm trong đáy nước một vùng đất đai và nhà cửa của 60 ngàn dân
cư.
Thái lan đã lên
tiếng chỉ trích là những con đập này sẽ gây gián đoạn chu kỳ của
các dòng nước lũ và sự di chuyển của các loài cá - cùng khiến một
số dân cư phải di tản và như vậy cái giá phải trả sẽ quá cao.
Quyết định sẽ do
các ủy viên thuộc Ủy ban sông Mekong gồm có Lào, Thái lan, Cambốt, Việt nam và có thể cả Trung quốc cũng
muốn được tham dự. Một viên chức Lào trong Ủy ban sông Mekong ở Vạn
tượng cho tôi biết là: “Chưa có một quyết định nào về con đập Pa
Mong. Nhưng thật khó cho chúng tôi khi phải xuất cảng nông phẩm hay
gỗ nhưng cũng thật là dễ dàng để xuất cảng điện. Chúng tôi có
trong tay một thị trường rất lớn là Thái lan. Tôi chưa thấy cách nào khác hơn đề chúng tôi có thêm
ngoại tệ.”
Con sông Mekong
rời khỏi Lào bằng một đoạn ghềnh thác mạnh mẽ sủi bọt rất ngoạn
mục có tên là Thác Khone chạy dài khoảng 6 dặm.
CAMBỐT
VÀ KHÚC SÔNG QUA CÁNH ĐỒNG CHẾT.
Con sông
Lần đầu tiên
khi tôi nói chuyện với viên chức ở thủ đô Nam vang, họ không muốn
cho phép tôi du hành trên sông Mekong, nhất là khu thuộc phía bắc, khi
mà lực lượng Khmer đỏ còn hiện diện trong một số làng mạc, họ đã
từng gây kinh hoàng và chết chóc trong 4 năm cầm quyền. Cho dù họ đã ký một thỏa ước hòa bình nhưng họ vẫn được
võ trang. Lực lượng Khmer đỏ đã từng giết một triệu dân
Cambốt, một phần tám dân số của nước này.
Nhưng khi thấy
tôi tha thiết với ý định đó thì họ nhượng bộ, cho phép tôi đi thăm
phía bắc con sông Mekong bằng loại thuyền máy tốc hành - “để tránh
đạn tốt hơn.” Các viên chức đi với tôi đều có mang theo
súng lục, riêng người tài công thì để cây súng AK-47 dưới chân.
Đó là một khúc sông quạnh quẽ với làng mạc cách xa nhau
khoảng 20 tới 30 dặm. Không thấy thuyền bè lưu
thông, chỉ có vài chiếc phà với những hành khách không ngừng đu đưa
trên những chiếc võng. Cơn mưa rào chợt tới và cũng chợt tạnh, giúp
chúng tôi rửa sạch những lớp mồ hôi. Rồi giữa buổi chiều nóng
nực, chúng tôi thấy được những cơn gió mát thổi vào mặt cùng với
những đợt sóng vỗ vào thành tàu. Gió đã đổi chiều.
Gió mùa thổi vào từ Ấn độ dương từ tháng 5 tới tháng 9, và bây
giờ chuyển sang gió mùa thổi từ Mông cổ tới khô và cũng dịu mát
hơn. Mùa mưa cũng đã qua đi, và cũng là bắt đầu mùa trồng trọt. Cá bắt đầu di chuyển về hướng bắc hàng năm. Từ phía trong làng, đàn ông đàn bà lội xuống nước vợt cá
bằng những chiếc lưới. Những con cá nhỏ ánh bạc vùng vẫy
trong lưới. Dân làng thích thú la lên: “Bây giờ thì cả cua và ếch
cũng ngon hơn trước.” Một người khác tiếp: “Ngay cả tiếng sấm cũng
khác nữa.” Bị cuốn hút vào khung cảnh thiên nhiên ấy, không còn ai
nhớ tới súng lục, súng AK hay cả Khmer đỏ nữa.
Nhưng người Cambốt đã cố không quên đi những ngày đen tối
với đám Khmer đỏ. Tại thị trấn Kompong Cham,
cách 50 dặm về hướng bắc Nam vang, một viên chức Cambốt đã dẫn tôi
tới xem “cánh đồng chết”. Hầu như thành phố nào ở
Cambốt cũng có cánh đồng chết như thế. Đó là
nơi quân Khmer đỏ tập trung mọi người lại trước khi sát hại.
Chúng tôi lái xe lên ngôi chùa ở đỉnh đồi rồi đi xuống một cánh
đồng với các bụi tre gai. Viên chức đi theo
hướng dẫn giải thích: “Có khoảng hơn 300 ngôi mộ tập thể tại đây,
các ngôi mộ lớn chôn khoảng từ 150 tới 200 người. Quân
Khmer đỏ tập trung mọi người và dẫn độ họ tới đây. Họ là
những người trí thức, viên chức chính quyền, thương gia giàu có hay chỉ
vì là cứng đầu khó bảo. Tất cả bị bịt mắt sắp hàng và lần luợt bị
đánh chết bằng búa, ống sắt hay xiên. Đã có hàng
ngàn người chết như vậy ở đây. Chúng tôi đã
chuyển đi 10 chuyến xe bò đầy xương người như vậy.”
Đi xuyên qua
những bụi cây, tôi có thể thấy những miếng xương, những mảnh áo
quần trên nền đất. Thật là khủng khiếp. Tôi tưởng tuợng rằng đến chim trên cành cũng phải thôi
hót và chỉ kêu hoảng khi nghe có tiếng người.
Ở một góc cánh đồng là những chồng xương sọ người sắp như
những hàng gạch đổ. Men Saman, tên người cận vệ
theo tôi từ Nam vang nói: “Thôi đi đi.” Anh ta như
chìm đắùm trong hồi tưởng và tiếp: “Những điều mà tôi còn nhớ được
là ăn côn trùng và thằn lằn và bụng thì lúc nào cũng vẫn đói. Và rồi tôi lại nghĩ và nhớ tới các anh chị tôi đã bị
chết đói. Tôi không muốn ở đây thêm nữa.”
Nam vang là
thành phố có 950 ngàn dân, trông cũ kỹ và nhếch nhác như như một
vật bỏ ngoài mưa quá lâu. Những bức tường trong các
biệt thự tráng lệ của người Pháp trước đây cũng như mặt ngoài các
cửa hiệu trở thành cũ kỹ rêu phong mà chẳng được tu sửa. Một chiếc cầu gẫy xập trong một trận đánh từ năm 1972 nay
vẫn nguyên vậy. Bến cảng với những cần trục
hoen rỉ và chẳng có hàng hóa gì để chuyên trở.
Khi quân Khmer
đỏ đi vào thành phố vào tháng 4 năm 1975, họ mau chóng xua hết dân
chúng ra khỏi thủ đô, đưa tới những trại lao động khổ sai, các trại
tù hoặc là sát hại. Bây giờ thì người ta đang cố
tạo dựng lại thành phố này và cả xứ sở. Một hiệp ước hòa
bình đã được ký kết giữa chính phủ, phe Khmer đỏ và hai nhóm kháng
chiến khác. Các cuộc bầu cử được hoạch định vào tháng 5, 1993 với
một lực lượng 20 ngàn quân bảo an Liên hiệp quốc sẽ tới để duy trì
hiệp định ngưng bắn rất mong manh này.
Từ 1991, chánh phủ hiện tại cũng không còn rêu rao tự
nhận là cộng sản nữa và bắt đầu chấp nhận quyền tư hữu trong kinh
tế. Đã có
những dấu hiệu thay đổi. Ông hoàng Shihanouk
được dân chúng yêu mến cũng đã trở lại hoàng cung. Một chiếc
tàu hàng lớn của Tân gia ba bỏ neo để đưa vào những chiếc xe hơi mới của Nhật. Tại khách sạn Cambodiana mới
xây, các doanh nhân người Nhật, Tân gia ba, Thái lan,
Mã lai và từ các xứ Á châu khác đổ tới đây để tìm cơ hội làm ăn.
Tôi quan tâm tới sự hồi phục của thành phố này. Và tôi cũng khám phá ra rằng
Anh ta nói với
tôi trong khi trang điểm: “Tôi chẳng bao giờ có thể dừng lại, Tôi đã
đóng hàng trăm cuốn phim trong 3 năm qua.” Trước vẻ sửng sốt của
tôi, hắn nói tiếp bằng giọng mỏi mệt: “Thật vậy môãi khi đi ra
ngoài ai cũng nhận ra tôi, nhất là đám con gái.” Cuộc
nói chuyện bị cắt ngang vì Khay phải nhảy vào giường bất chợt với
một cô bạn gái nào đó... hoặc một tình huống nào đó tương tự mà
tôi cũng không biết rõ.
Một buôiå chiều
tôi đi dạo trên một “Con Phố Anh ngữ” gồm những tòa nhà 2 từng
không cách xa mấy khu hoàng cung. Khoảng 5-6 giờ chiều trên đường phố
tấp nập những cô cậu học sinh đi xe đạp hay xe
gắn máy, họ tới đây thẳng từ trường học với nguyên những bộ đồng
phục áo trắng và quận màu sậm. Họ tụ tập dưới
những tấm biển “Lớp Anh ngữ căn bản dạy tại đây.” Một chú
học sinh giải thích: “Chúng tôi không muốn nói tiếng Pháp như các
ông bà già. Bây giờ phải là tiếng Anh ... ngôn ngữ
để giao dịch.”
Tôi theo chân các cô cậu học sinh bước vào trong một
căn phòng kê đầy những bàn học và trên tường thì vẫn nhởn nhơ
những con rắn mối. Thầy giáo tên là Ney Youda, là một người đàn ông
trẻ và cũng là nhà báo. Anh ta đã mở lớp học như
vậy trong 2 năm. Anh ta khòm người trên cuốn sách, đọc tiếng
Anh bằng một giọng đứt quãng về môät câu chuyện có tên là “Buổi
sáng ngày sinh nhật của Margaret Priesley.” Khi anh vừa bắt đầu thì
ngọn đèn điện duy nhất tắt phụt khín cả phòng tối om.
Không có ai kêu la gì. Ngay sau
đó có hai cô học trò đứng dậy châm ngọn đèn dầu treo trên tường.
Trong giờ học tiếp theo khi cả lớp đang học về
tính đoan trang của một cô nữ sinh Anh và một ngày đặc biệt của cô
ta, thì bất chợt ngọn đèn điện sáng trở lại nhưng cũng không kéo
dài được mấy phút. Ney Youda nói: “Đêm nào cũng như vậy. Nhưng năm ngoái chúng tôi còn không có chút điện nào
hết. Nhưng thôi, bây giờ anh dạy chúng tôi một lúc đi.”
Bị quá bất ngờ,
tôi chọn đại một câu bất chợt tới trong óc, đó là: “Ngòi bút có
sức mạnh hơn lưỡi gươm”. Tôi viết câu đó trên bảng
đen. Sau khi tập đọc lai nhiều lần, đám học sinh hỏi tôi câu
có là nghĩa gì. Tôi trả lời là: “Những cuốn sách có thể dạy chúng
ta nhiều điều mà súng đạn thì không.” Tôi nghĩ tới
những cánh đồng chết và không biết tôi có thuyết phục được gì
không. Rồi lớp học kết thúc, học trò lần lượt bỏ lên bàn
150 riel - khoảng vài hào, và rồi vội vã về nhà - có lẽ mấy chữ
mới học được ấy sẽ đưa họ tới gần một đời sống tốt đẹp hơn chăng.
Đường phố
Chúng tôi đi qua những bàn tay chìa ra của đám người ăn mày, đa số
trong bọn là những thương phế binh bị què cụt bởi mìn; có cả những em
bé trôi rạt từ những làng xã phía nam ngập lụt như những khu ao hồ
lớn trong mùa hè nước lũ.
Chúng tôi đi theo dòng người vào chùa, đa số là phụ nữ với y
phục là những chiếc váy sarong sậm và áo cánh trắng. Họ mang những chiếc khay với cơm sôi chuối gà cá các loại
bánh và trứng. Trong chùa mát dịu với trần nhà
cao; họ tới đặt khay thức ăn dưới chân những nhà sư để được đọc
tên những người thân đã quá cố đồng thời nghe đọc lời cầu nguyện
cho mỗi người.
Phải nhắc tới tên mọi người chết tôi nghĩ không khí sẽ
sầu thảm đến chừng nào. Nhưng không,
nhiều gia đình sau khi làm lễ cúng dường, họ ngồi phân tán trên nền
nhà, dưới cái nhìn từ bi của bức tượng Phật vĩ đại, họ vui vẻ ăn
và chuyện trò như buổi du ngoạn ngoài công viên. Một
số gia đình khác thì tươi cười đứng chụp hình trên những bậc thềm
trước chùa. Một bà cụ nhìn thấy tôi, đem cho một tô cá nấu
càri và bảo “Ăn, ăn đi chứ,” Tôi chia phần ăn với bà cụ, sau đó
trước khi tạm biệt cụ ngỏ lời chúc tôi được sống lâu. Dĩ nhiên đó
chỉ là tập tục chúc tụng cổ truyền của người Cambốt, nhưng dầu sao
với các điều tai nghe mắt thấy về những năm bạo tàn của Khmer đỏ,
lời chúc ấy vẫn khiến tim tôi đau nhói.
VIỆT
Qua 2000 dặm
suôi chảy, trước khi đổ ra biển khơi con sông
Vào tới lãnh
thổ Việt nam, con sông bắt đầu tràn lan và trở nên thật phong phú,
gồm hai nhánh chính mà người Việt gọi tên là Tiền giang và Hậu giang
chảy qua một vùng châu thổ rộng khoảng 15 500 dặm vuông, mênh mông
và ẩm thấp, tại đây con sông lại chia thêm nhánh, gồm bảy nhánh
chính trước khi đổ ra biển Nam hải. Còn hai nhánh nữa đã bị lấp khuất
từ nhiều năm nhưng người Việt nam vẫn giữ con số 9 như con số hên
nên vẫn gọi tên con sông là Cửu long, nghĩa là 9 con rồng.
Còn vô số
những sông lạch chằng chịt ra vào các nhánh sông Cửu long ấy, chiều
dài của thủy lộ này lên tới 2000 dặm, gần bằng chiều dài của chính
con sông
Tôi đến thị xã Phụng hiệp cũng là trung tâm vùng đồng
bằng vào ngày họp chợ. Đây cũng là
nơi bảy nhánh sông gặp nhau, với bao con thuyền độc mộc chở đầy trái
cây: chuối, dừa, dưa, dứa... cùng đổ về. Mỗi con thuyền do một người
đứng ở phía đuôi vừa chèo vừa lái hướng về các con thuyền buôn lớn
để trả giá trao đổi những món hàng. Ở xa trông giống như đàn chó
con quấn quýt bám lấy chó mẹ. Trên mỗi chiếc xuồng
nhỏ đa số là phụ nữ với khuôn mặt khuất sau những chiếc nón lá.
Túm tụm lại với nhau quang cảnh trông giống như một
cánh đồng nấm trên mặt nước.
Tôi hỏi Niệm,
tên người thông dịch: “Tại sao có nhiều phụ nữ như vậy?” “Vì các bà
các cô mới có kiên nhẫn để trả giá, ông thấy họ đang chạy quanh
để tìm được giá hời nhất,” trong khi đó thì con thuyền chúng tôi phải
lách tới tới lui để khỏi đụng vào những chiếc ghe khác.
Đi sâu vào con
lạch khoảng một dặm chúng tôi tới thăm một nông trại. Người lái đò đẩy thuyền vào bờ lạch rậm rạp những cây
cọ. Trước khi nhảy ra khỏi ghe, biết trước mặt đất sẽ bùn lầy
tôi xăn cao ống quần trước. Niệm và tôi leo
lên một bờ sông dốc trơn trợt khi tới được một căn nhà gỗ của Lư
văn Hạnh. Hạnh vừa
từ ngoài ruộng trở về và được mấy đứa con trai đỡ lên giường.
Hạnh bị cụt hai chân từ trên gối. Khi thấy tôi
nhìn vào hai mỏm chân cụt, Hạnh nói: “Tôi có thể làm việc như mọi
người. Tôi có thể trèo cây, đào rạch quanh ruộng để có thể di
chuyển bằng xuồng nhỏ mà khỏi phải đi bộ. Ở trên
ghe tôi có thể tự mình xoay trở qua lại.”
Hạnh bị cụt hai chân khi còn là một người lính cũ của miền
Sau chiến tranh,
nhà nước muốn phục hồi mức sản xuất nông phẩm trong vùng, họ
khuyến khích tái định cư. Rồi từ năm 1980, chính sách nông tác tập
thể được bãi bỏ, nông dân được quyền tư hữu hóa trở lại và mức
sản xuất được bung ra.
Với hơn hai mẫu
ruộng, Hạnh có thể làm ba vụ mùa mỗi năm. Con sông Mekong không
phải chỉ đem nước vào tưới ruộng mà còn mang tới lớp đất phù sa màu mỡ trong những mùa nước lũ cùng tôm cá vào
trong các ao. Chỉ riêng năm ngoái Hạnh thu hoạch
được hơn 300 ký lô tôm. Hạnh nói: “Tôi tới đây với hai bàn tay
trắng. Sau chiến tranh thì đây là vùng đất bỏ hoang.
Tôi phải đào mương vàvỡ đất. Lúc
đó tôi là người nghèo nhất trong vùng. Nhưng
bây giờ thì tôi bắt kịp mọi người và còn có thể hơn một số người
khác.”
Tương truyền rằng vào khoảng hai thế kỷ trước trong thời vua
Gia long có một vị quan từ triều đình Huế đi vào tham quan vùng Đồng
Tháp với rậm rạp những cây tràm và lau sậy. Khi trở về vị quan trình rằng: “Phải coi chừng lũ cá sấu...
đỉa...ma quỷ và cả thần linh.” Ma quỷ bây giờ đối với người Việt ở
đây là “chiến tranh đế quốc Mỹ,” với hậu quả là 4 triệu người,
ngót một phần mười dân số bị chết hay tàn phế.
Người tỉnh ủy
viên Đồng tháp tên là Mười Nhe đãvề hưu, trước từng là sĩ quan trong
quân đội Việt cộng bị chột mắt vì lựu đạn, nói với tôi: “Đồng Tháp
Mười là một khu ẩn náu lý tưởng, hồi đó chúng tôi không sợ gì hết
ngoài chiến tranh hóa học, chúng tôi hoàn toàn bị bó tay.” Để xua
Việt cộng ra khỏi vùng, người Mỹ đã cho đào kênh mương để tát cạn
các đầm lầy, rồi cho máy bay rải bom Napalm và chất khai quang để
diệt hết cây cỏ... Sau chiến tranh Đống Tháp vẫn còn
hoang dã nhưng hoàn toàn bị nhiêãm độc.” Ông kể lại khi còn
làm Tỉnh ủy, ông đã thực hiện kế hoạch đắp đê dẫn nước và trồng
lại các khu rừng ra sao.
Ban đầu chúng
tôi định di chuyển bằng xe nhưng do lũ lụt đã lấp sạch các đường sá,
chúng tôi phải dùng thuyền di chuyển; trong ban đêm người tài công
phải cẩn thận len lách qua những lưới cá chỉ được làm dấu tù mù
với những ngọn đèn bằng khí đốt.”
Sáng hôm sau
tới được Trạm chim, được bảo trợ tài chánh một phần bởi Hiệp hội
Bảo tồn Hoa kỳ. Ở đây tôi đã thấy được một số kết
quả trong nỗ lực phục hồi ấy. Cùng đi với tôi
là nhà nghiên cứu chim tên Võ Quý thuộc đại học Hà nội.
Chiếc ghe của
chúng tôi đi lách giữa những lùm lau sậy rậm rạp, gây động khiến
những con diệc xám hốt hoảng phải cất cánh tung bay. Tiến sĩ Võ Quý
chỉ vào một đàn vịt đang bay qua trên đầu, rồi vểnh tai
lắng nghe tiếng con chim bói cá. Tôi phải thốt lên: “Thật tuyệt
đẹp.” Võ Quý bảo nếu tôi trở lại đây trong vòng 2 tháng nữa,
khoảng vào tháng Giêng, tôi có thể thấy những đàn hạc bay tới từ
hướng đông, đó cũng là đàn di điểu cuối cùng của vùng Đông nam Á.
Bây giờ có hàng ngàn những con sếu đầu đỏ cao năm bộ sống trong
Trạm chim hàng ngày đi kiếm thức ăn chủ yếu là cá. Võ Quý còn nói
thêm: “Với người Việt nam, thì giống hạc là biểu tượng cho sự sống
lâu và tuổi thọ.”
Quân đội Mỹ xử
dụng chất Da cam giữa khoảng 1962 tới 1970 nhằm phá hủy các xào
huyệt ẩn núp của cộng quân. Chất Da cam có chứa độc tố Dioxin, được
biết có tác hại trên cơ thể. Chất độc tố này vẫn
nằm trong lòng đất và trong cơ thể những người dân vùng đồng bằng
sông Cửu long. Các khoa học gia Việt nam thì tin rằng các dị tật
bẩm sinh, hư thai, rối loạn thần kinh và cả một số dạng bệnh ung thư
phần lớn có liên hệ tới chất Da cam. Trong khi các
chuyên gia người Mỹ thì thận trọng cho rằng các khảo sát ấy thô sơ
và không thể đưa tới kết luận nào. Nhưng họ
thấy mức độ chất Dioxin vẫn có cao hơn trong nhóm bệnh nhân nghiên
cứu.
Nhưng đối với một số người dân ở đây thì các lý luận khoa
học ấy là vô nghĩa. Ngay trong thị xã Cà mau,
phía nam đồng bằng sông Cửu long, tôi được giới thiệu gặp ông Lâm
Nhạc Trung 61 tuổi với đôi mắt sậm sau làn kính như xoáy vào người
đối diện. Ông thuộc bang hội người Hoa sống bằng nghề thảo bút tự
cho các gia đình Trung hoa khác. Cửa
hiệu của ông nằm trên một nhánh sông phụ của con sông
Với các chuyên
gia y tế khác thì cho rằng tình trạng ấy không liên hệ gì tới chất Da
cam mà do các nguyên nhân khác. Nhưng với người dân
ở đây thì tiếp tục đổ lỗi và lên án chất khai quang gây nên những
căn bệnh kỳ quái ấy. Ông Trung nói: “Tôi muốn câu chuyện này
phải được kể lại; và người ta phải tìm cách cứu giúp những người
dân vô tội hoạn nạn vì cuộc chiến tranh.” Khung, tên đứa bé trai,
bắt đầu rên
nấc, ông Trung tới giúp nó trở mình. Ông kéo tấm mền đắp che tấm
thân thể co quăép của nó chỉ để chừa lộ ra đôi bàn tay
còn đẹp đẽ ấy.
Từ Cà mau, tôi chỉ còn cách biển khơi khoảng 35 dặm. Ban đầu tôi muốn được ra biển bằng một con
tàu nhổ neo từ Cần thơ nhưng tôi đã bị các viên chức chính quyền từ
chối không cho phép. Bây giờ thì tôi thử tái thực hiện dự
định ấy nhưng là khởi đi từ Cà mau, phía nam của đồng bằng sông Cửu
long.
Niệm là người
thông dịch và cũng là người canh chừng tôi, hối hả chuẩn bị chiếc
thuyền gỗ dài 70 bộ và chạy bằng một máy kéo. Hai bên cạnh mũi
thuyền có vẽ hai con mắt. Chúng tôi đi xuyên qua khu rừng U minh, mà
tôi được biết đã trơ trụi trong thời chiến tranh; được trồng trọt
lại nhưng nay lại sắp trơ trụi trở lại vì vô số thuyền bé tấp nập
tới đây để đốn củi.
Xa hơn về phía
nam, từng mảng rừng bị cắt quang, và người ta đào hào để nuôi tôm:
loại tôm xứ lớn sản xuất không đủ để cung cấp cho Nhật bản. Làng
chài lưới
Nguyễn Trường
Giang, 29 tuổi là phó giám đốc xí nghiệp cho biết: “Chúng tôi có các
khách sạn, nhà hàng, trường trung học, cả đường dây điện của nhà
nước cũng đã tới được đây. Dân số trong quận thì tăng gấp đôi,
khoảng 82 ngàn người.”
Nhưng có mối hiểm nguy rình chờ. Vào một buổi sáng trong xưởng tôm với 700 nữ công nhân
trong đồng phục trắng đang làm công việc rửa và lựa tôm trên những
mặt bàn bằng kim loại, thì bất chợt mọi người
phải ngưng mọi công việc để xem một cuốn phim phòng ngừa bệnh AIDS. Viên quản lý cho biết đã có một vài trường hợp bệnh
xuất hiện. Nhưng trở lại vào ban đêm thì cảnh trí sinh hoạt vẫn
như vậy - bệnh AIDS chỉ còn là mối hiểm nguy bên lề của cuộc sống.
Đi về phía nam
của Nam căn, tôi ngửi thấy mùi muối trong không khí và cả nếm thấy
vị mặn trong những hạt nước nhỏ tung tóe nơi
đầu mũi thuyền. Trước khi ra biển, Niệm quyết định dừng lại trước
đồn công an kiểm soát. Bốn viên công an bước xuống thuyền cho biết chúng tôi có thể tới
gần cửa biển nhưng không được đi vào và cũng không đưa ra giải thích
tại sao. Tôi bất bình nhưng không ngạc nhiên. Du
hành trên sông
Chúng tôi tới
gần cửa sông khoảng một phần tư dặm, đủ gần để thấy đầy những
lưới cá với những cây sào cắm và cả thấp thoáng thấy phía bên kia là vịnh Thái
lan. Và rồi công an ra lệnh thuyền phải quay
trở lại.
Trở về Cà mau
vào buổi chiều tà, với những con dơi lớn bay trên nền trời xám.
Những con diệc kiếm ăn đêm thì bay về phía những đồng lầy. Chẳng mấy
chốc chúng tôi lại chen lách trở lại giữa đám
ghe thuyền của những người đi đánh cá, cắt củi, người đi họp chợ và
cả những các em học sinh: tất cả lại cùng chan hòa vào nhịp điệu
thân thuộc bấy lâu của con sông
Trong bóng đêm
người ta có thể tạm quên đi bóng dáng của chiến tranh và những bất
ổn đã không ngừng đổ xuống khắp vùng đất cổ xưa này, và rồi tưởng
tượng rằng con sông Mekong giống như một con rồng sáng lạn vẫn tuôn
chảy dũng mãnh nhưng hiền hòa, cống hiến đời sống cho xuyên suốt cả
một vùng Đông nam Á châu.
The
Photographs by
Michael S. Yamashita.
(Bản tiếng Việt của Tâm Bình)