SÔNG MEKONG GIỮA CHIẾN TRANH

TRONG KINH HOÀNG VÀ NIỀM HY VỌNG

 

PETER T. WHITE – Bản dịch TÂM BÌNH

 

Chúng ta đã cùng Francis Garnier từ Sài gòn ngược dòng sông Mekong thời hoang dã (1866) sang tới tận Vân Nam (Đi Tới 37).  Thế giữa những năm khói lửa chiến tranh cuộc sống của cư dân hai bên bờ sông Mekong ấy ra sao? Chúng ta hãy cùng phóng viên Peter T. White và nhiếp ảnh viên W.E.Garrett tới với khúc sông Mekong (1968) từ vùng Tam Giác Vàng biên giới giữa Miến Điện Thái Lan và Lào xuôi dòng con sông Mekong qua Cambốt xuống tới đồng bằng Cửu Long ra tới biển Nam Hải. Riêng khúc sông phía thượng nguồn từ quốc gia Tây Tạng xuống Vân Nam  thuộc quyền kiểm soát của Bắc Kinh đã không cho nhà báo Mỹ bén mảng tới. Thiên ký sự “The Mekong River of Terror and Hope” của Peter T. White đã được đăng tải trên tập san National Geographic số tháng 12, 1968 (Vol,No.6). Cũng cần lưu ý độc giả đây là một bài lược dịch, với môái quan tâm là “Những Dữ Kiện Liên Quan Tới Các Bước Phát Triển Của Con Sông Mekong”, riêng cách nhìn về cuộc chiến tranh Việt nam phải được hiểu là của một nhà báo Mỹ.  Bản tiếng Việt của Tâm Bình.

 

ĐI TÌM CHÍN CON RỒNG SÁNG.

Việc đầu tiên là tôi khảo sát trên bản đồ. Tiếp đó tôi đi theo một phi cơ quân sự Mỹ bay cao rồi bay thấp trên khắp vùng, nơi mà đầm lầy lau sậy và các cửa sông bùn lầy tiếp xúc với biển Nam Hải. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng chỉ tìm thấy tám con rồng. Sao mà có thể như vậy được khi người Việt nam gọi sông Mekong là Cửu Long Giang - Sông của chín con rồng?

Trong trí tưởng tưởng của người Việt thì con sông lớn ấy trong đồng bằng châu thổ ví như một con rồng nơi đoạn cuối đã tách ra thành nhiều cửa sông biến thành nhiều con rồng khác mà riêng tôi chỉ đếm được có tám.

 

NHỮNG CON RỒNG HÚT NƯỚC TỪ MÙA MƯA

Tôi hỏi ông Tôn Thất Thiện, như người tham vấn lâu nay về các vấn đề Việt nam, hiện đang là Bộ trưởng Thông Tin.

Ông ta cười nói: “Thực sự chỉ có tám nhưng số 8 không phải là một con số hên. Phải là số 7 hoặc 9 và do đó chúng tôi đã tìm ra một cửa sông nữa nhưng rất nhỏ và hẹp chỉ dài ngót hai chục cây số nên tôi chắc anh sẽ chẳng thấy buồn khi không tìm ra nhánh sông đó.”

Dĩ nhiên là tôi chẳng buồn vì còn rất nhiều điều liên quan tới con sôngMekong mà người ta hy vọng có thể tìm thấy được - trong một tháng, trong một năm, trong cả một đời người.

Nguồn nước từ tuyết tan từ 16 ngàn bộ trên cao nguyên Tây Tạng phía trên dãy Himalayas. Người Tây Tạng gọi tên con sông là Dza-Chu có nghĩa là Nước của Đá. Con sông đổ xuống phía nam qua những hẻm núi hoang vắng của tỉnh Vân Nam với tên Lạn Thương giang có nghĩa là Con sông Cuồng nộ. Và suốt hơn 1100 dặm khúc sông thượng nguồn này thuộc quyền thống trị của Bắc kinh và dĩ nhiên không muốn có người Mỹ dòm ngó tới.

Do đó tôi đã giới hạn cuộc hành trình từ vùng tam biên Miến điện Thái Lào được coi như giới hạn phía bắc của vùng Hạ lưu sông Mekong - Lower Mekong Basin, diện tích bằng 7-8 lần bang Texas và hấp dẫn với bất cứ ai.

Đây là khúc sông  Mekong 1500 dặm chảy hiền hòa trong cả chiều dài 2600 dặm - là con sông dài thứ 11 của thế giới nhưng về lưu lượng nước thì đứng hàng thứ mười và là con sông lớn nhất Đông Nam Á. Ba phần tư lưu lượng nước ấy là do mùa mưa đổ xuống vùng Hạ lưu sông Mekong.

Do mùa mưa xen lẫn với mùa khô nên một phụ lưu chính đã đổi chiều và chảy ngược dòng (con sông Tonle Sap, ghi chú của người dịch - gcnd).

Cũng nơi đây trải qua hàng ngàn năm, đời sống cư dân và những cây lúa của họ đã thích nghi với nhịp điệu của con sông Mekong và hai mùa mưa nắng. Họ đã xây dựng nên đền đài Angkor và họ cũng dựng nên bộ máy quân sự - chánh trị mang tên là Việt Cộng.

Hai nước Lào và Thái nói cùng ngôn ngữ, cùng gọi tên con sông Mekong là Mae Nam Khong, có nghĩa  “con sông mẹ. Người Tây phương đã rút ngắn tên Mae Nam Khong thành Mekong. Người Cambốt hay Khmer gọi tên con sông là Tonle Thom có nghĩa là con sông lớn.

 

NỖI KINH HOÀNG: HỎA TIỄN GIỮA ĐỒNG XANH.

Chỉ riêng Thái Lào Cambốt và Việt nam, cư dân sông trong vùng hạ lưu sông Mekong lên tới 28 triệu. Đã từng sống với đám cư dân vùng Đông Nam Á châu này, có hai lý do khiến tôi không bao giờ quên được tầm quan trọng của họ vượt xa sĩ số về dân số.

 

Thứ nhất là cuộc chiến tranh. Tôi đã thấy nó dữ dội ra sao nhất là ở Nam Việt nam, nơi mà những chiếc giang hạm sơn xanh của Hải quân Mỹ chế tạo riêng cho cuộc chiến trên các sông rạch  trong đồng bằng châu thổ, với những khẩu đại bác bắn nhanh để chống lại hỏa tiễn của Việt cộng được chế tạo ở Liên Xô hay Trung quốc.

Những trái hỏa tiễn chết người ấy được phóng ra từ những hầm bí mật trong đồng xanh đôi khi dọc theo những con rạch chật hẹp tới mức thuyền không thể xoay vòng được. Hạm trưởng của đội giang thuyền xung phong Flotilla nói: “Cứ giống như ngày xưa vậy, đụng trận ngay trong vòng từ 15 tới 20 thước Anh, bắn trực xạ.”

Thầm lặng hơn nhưng cũng không kém chết chóc là trận chiến tranh ở Lào  với những người Mỹ đa số là dân sự yểm trợ cho mấy chục ngàn lính quốc gia đối đầu với lực lượng nổi dậy do quân Bắc Việt hỗ trợ.

Riêng tại Thái Lan vốn là đồng minh của Mỹ, nạn khủng bố gia tăng cùng với gia tăng xâm nhập của cộng sản qua con sông Mekong. Ngay cả với Cambốt tự coi như trung lập và tương đối yên tĩnh nhưng cũng không tránh khỏi sự xâm nhập của vũ khí và nỗi sợ hãi do hậu quả của cuộc chiến tranh tâm lý.

Tóm lại, cư dân sống trong vùng hạ lưu sông Mekong cảm thấy bị vây bủa vì cuộc chiến tranh mà diễn tiến của nó ra sao thì lại được quyết định bởi Hoa Thịnh Đốn, Mặc Tư khoa hay Bắc kinh - cái khối gồm 1 tỉ 170 triệu người gồm Mỹ Nga Hoa chiếm một phần ba dân số nhân loại.

 

Thứ hai, với hy vọng về một giải pháp cho Đông Nam Á, vùng Hạ lưu sông Mekong mở ra hứa hẹn có một không hai trong bối cảnh hòa bình: đó là Dự án Phát triển sông Mekong. Mục đích là đem lại sự thịnh vượng trong vùng, nơi mà 80% dân cư vẫn sống bằng nghề nông  - đa số nghèo khổ suy dinh dưỡng và bệnh tật. Đó là kế hoạch xây những con đập dọc theo các phụ lưu và cả trên dòng chính mạnh mẽ của con sông Mekong.

Các đập này sẽ tạo ra những hồ chứa lớn giữ nước trong mùa mưa từ tháng 6 tới tháng 11 và có thể ngăn lũ lụt. Các con đập sẽ cung cấp nước tránh hạn trong mùa khô, tưới cho những vùng đất hoang mênh mông và những vùng đất đã trồng trọt để có thể tăng lúa trồng lên 2 hay 3 vụ một năm. Kiểm soát lưu lượng nước đổ vào dòng chính sông Mekong có thể làm ngập các vùng ghềnh thác và cải thiện thủy lộ giao thông. Các turbines trong các đập sẽ sản xuất điện quanh năm thắp sáng các thành phố và cung ứng điện cho kỹ nghệ.

Tổng kết lại thì lợi ích dự trù sẽ vượt xa những thành tựu của Tennessee Valley Authorities. Chưa có nơi nào trên thế giới mà lại được hoạch định phát triển kinh tế vùng ở mức độ lớn lao đến như thế.

 

CÁC QUỐC GIA HỢP TÁC ĐỂ CHẾ NGỰ DÒNG SÔNG.

Dự án sông Mekong được coi như một nỗ lực hợp tác của các quốc gia trong khu vực Hạ lưu sông Mekong, với hy vọng giảm bớt thù nghịch do chồng chất chiến tranh trong quá khứ. Một nhà ngoại giao Âu châu đã nói với tôi: “Hãy nhìn rõ sự thật: người Lào không ưa gì người Thái, người Thái không ưa ngưới Cambốt. Người Cambốt thì thù ghét cả Thái lan lẫn Việt nam. Còn người Việt nam thì coi thường cả người Cambốt Thái và Lào.” Tuy vậy kể từ 1957, phái đoàn của 4 quốc gia này đã cùng nhau làm việc trong Ủy Ban sông Mekong dưới quyền giám sát của Liên Hiệp quốc. Dần dà dự án sông Mekong trở thành hiện thực. Nhóm kỹ sư và khoa học gia đến từ Âu châu, Bắc Mỹ và Á châu. Tới năm 1961 nhóm khảo sát chủ yếu là người Nhật đã chọn những khúc sông có thể xây đập. Các nhà lãnh đạo của 24 quốc gia - mà người náo nức nhất là Tổng thống Mỹ, cùng đồng ý đầu tư khoản tiền cần thiết  lên tới nhiều tỉ đôla. Và tôi càng ngày càng quan tâm tới những con đập. Tôi đã thấy những đường dây điện tủa ra từ con đập được hoàn tất trên phụ lưu sông Nam Phong bắc Thái dẫn sang Lào do ngân khoản cho vay của Đức. Và trong năm nay, Gia Nã Đại cũng sẽ giám sát công trình xây đập trên phụ lưu Nam Ngum thuộc Lào.

Tôi theo đoàn đi thuyền máy tới địa điểm xây đập Pa Mong, con đập đầu tiên sẽ được xây trên dòng chính sông Mekong. Tôi thì bị ướt đầm, cơn mưa đã làm ướt nhẹp cuốn sổ tay ghi chép và để cứu vãn được phần nào tôi phải ngồi xệp lên đó. Ngồi cạnh tôi là kỹ sư kế hoạch đập Pa Mong  tên Lyle W. Mabbott từ Dubois thuộc tiểu bang Wyoming. Vốn là nhân viên kỳ cựu của Văn phòng Khai hoang Mỹ, đã từng xây các đập ở bang Arizona và trên sông Nile ở Ai cập. Anh nói: “Tôi giữ chiếc ví trong một bao Plastic!”

 

HAI MƯƠI NĂM VÀ MỘT TỈ ĐÔ LA.

Buổi sáng hôm đó từ thủ đô Vạn tượng chúng tôi lên đường dưới một bầu trời xanh. Con sông Mekong trong mùa mưa đẫm những phù sa màu nâu óng ánh, thứ màu của cà phê pha nhiều kem. Bây giờ thì mưa lớn trên sông, những hạt mưa nặng bắn ngược trở lại giống như những hạt ngọc rắc vãi trên một biển càphê.

Đây là khúc sông Mekong biên giới giữa Thái và Lào. Chúng tôi đổ bộ lên bờ phía Thái lan, khoảng 15 dặm phía bắc Vạn tượng. Bờ  sông dốc và trơn trợt. Khi chúng tôi leo lên dốc thì mặt trời cũng lại ló dạng, tôi cảm thấy sức nóng và cả độ ẩm có thể khiến tôi phải tan loãng.

Chúng tôi dừng lại ở độ cao 280 bộ trên mặt sông , một bảng hiệu ghi dấu địa điểm của đập Pa Mong, nơi Lỗ Khoan 108. Những chuyên viên người Thái năng nổ làm việc với chiếc dàn khoan Thụy Điển chạy bằng động cơ Vokswagen nổ ồn ào lấy ra được những thỏi đá hình trụ dày tới hơn 7cm.

Mabbott nói: “Đó là các mẫu đá phù sa - siltstone, phải gói dán lại ngay trong sáp nóng nếu không thì sẽ vỡ rữa. Chúng tôi sẽ gửi sang Denver để phân tích. Anh không thể vẽ đồ án con đập nếu chưa nắm vững về địa chất.”

Rồi tới phần địa hình. Khi nghe Mabbott đề cấp tới các vấn đề thì tôi mới hiểu tại sao dù với tiền của thế giới đổ về thì con đập Pa Mong cũng không thể hoàn tất một cách vội vã.

Phẩm chất của đá sẽ xác định chiều cao và sức nặng mà con đập có thể chịu được. Một diện tích rộng lớn phải được khảo sát để tính lượng nước có thể lưu trữ ở những độ cao khác nhau. Những yếu tố này sẽ qui định hình dáng độ dày và sức mạnh của con đập.

Mabbott vẽ một phác thảo. “Pa Mong ở độ cao 325 bộ so với lòng sông sẽ chứa được 3.4 ngàn tỉ bộ khối nước - cubic feet. Bây giờ chúng ta có thể nâng độ cao lên 360 bộ, cho lượng nước chứa lên tới 3.7 ngàn tỉ, gấp hai lần rưỡi đập Hoover của Mỹ. Cũng có thể chúng ta nâng độ cao lên tới 390 bộ...”

Anh biết được như vậy khi nào? “Chúng tôi ước chừng vào năm 1969 (bài viết năm 1968 - gcnd)  và có giải đáp vào khoảng năm 1971.” Rồi 3 năm vẽ đồ án, 6 tới 8 năm để xây cất, thêm 10 năm nữa trước khi nhà máy điện có thể đạt được toàn công xuất. Tổng cộng phải hơn 20 năm! Và cần một tỉ đô la, chưa kể phí tổn về thủy lợi.

 

DU KÍCH LÀO ĐE DỌA ĐÁM CHUYÊN VIÊN.

Một kinh tế gia người Lào cùng đi với chúng tôi tại Điểm khoan 108, hướng về phía bờ sông bên Lào đưa ra nhận xét cảnh giác: “Chúng tôi không dám chắc về sự trung thành của đám dân chúng trong vùng này. Nếu các viên chức từ Vạn tượng tới đây như một phái đoàn lớn, họ sẽ được tiếp đón như những khách danh dự, nhưng nếu chỉ là một toán nhỏ thì họ có thể bị giết.”

Khi trở lại Van tượng tôi nói chuyện với trung tướng Kouprasith Abhay của quân đội Hoàng gia Lào. Ông ta đang chống lại lực lượng nổi dậy có tên là Pathet Lào. Bây giờ thì ông gọi họ là bọn Lào-Việt  -  phiến loạn Lào được tăng cường bởi lính Bắc Việt nam.

Tướng Kouprasith nói: “Chúng tôi hành quân trong mùa khô khi đường xá còn có thể đi được và thời tiết tốt cho không quân. Bọn chúng thì mở các cuộc tấn công trong mùa mưa. Căn cứ của chúng trên núi. Đường giao thông huyết mạch của chúng tôi là con sông Mekong.” Ông còn kể tên những thành phố khác dọc theo con sông có phi trường như Luang Prabang, Vạn tượng, Paksane, Thakhek, Savanakhet, Pakse. “Máy bay của chúng tôi oanh kích dữ nhưng bọn chúng xâm nhập đông hơn kể cả với vũ khí nặng. Ông xem đây.”

Văn phòng được trang trí với khẩu súng SKZ và cao xạ 14.5mm chống máy bay tịch thu được, tất cả đều được chế tạo từ Liên Xô.

Ông Tướng thở dài. “Năm 1954 chỉ có 6 000 lính Bắc Việt tại Lào. Bây giờ có hơn 40 000. Dân chúng thì chạy khỏi vùng Lào-Việt...”  Dân tỵ nạn là một trong những vấn đề khẩn trương nhất  của nước Lào. Một viên chức của cơ quan USAID tại Vạn tượng cho biết: “Chúng tôi hiện phải nuôi 135 000 người. Chúng tôi cũng cung cấp cho họ hạt giống và nông cụ. Trong vòng một năm họ có thể tái định cư  và cấy lúa trở lại.”

Keo Viphakhone Bộ trưởng Xã hội Lào nói với tôi là có thể có tới 600 000 người Lào phải rời bỏ làng mạc do chiến tranh. Vào khoảng một phần tư dân số, bao gồm đa số những người Thượng  dũng cảm với y phục đầy màu sắc như  các sắc tộc Mèo, Lisu, Kha Mou, Akha và Yao. Những người dân bộ lạc này đi tìm sự an toàn nơi các vùng đất dọc bên bờ sông Mekong và các phụ lưu hay trong những khoảng rừng trống. Hàng chục ngàn người ấy đã được tiếp tế gạo nhập cảng bằng máy bay do USAID thuê. Nơi nào máy bay không đáp được thì các bao gạo được thả xuống từ trên không.

 

DẤU HIỂM NGUY TRÊN TẤM BẢN ĐỒ PHI  HÀNH.

Các phi công vui tính ấy là những người Mỹ dân sự, họ phải cập nhật hóa các tấm bản đồ phi hành của họ. Những ô vuông xanh chỉ các phi trường bạn, ô đỏ là địch. Hơn nửa phần lãnh thổ được coi là thuộc vùng địch. Còn các tam giác đỏ đánh dấu vùng bị máy bay oanh kích. Khoảng 400 dặm dọc biên giới phía đông Lào là vùng núi non, nơi các đạo binh Bắc Việt di chuyển để xâm nhập vào Nam Việt nam - một dải đất rộng 40 dặm được đánh dấu như là một vùng thật nguy hiểm: với cao xạ phòng không điều khiển bằng radar.

Tôi đi về hướng tây-bắc  khoảng 215 dặm tới một phi trường bạn đánh dấu ô xanh có tên là Lima-25. Đây là bản Houei Sai, đơn vị hành chánh của Houa Khong. Từ máy bay nhìn xuống những cánh đồng lúa ngập nước trông như những tấm gương sáng. Tiếp theo là những đồi cây và núi non trải dài tới chân trời và trong các thung lũng là ngoằn ngoèo những nhánh sông nước sẫm nâu: nhánh sông Lik rồi sông Mekong, tới nhánh sông Beng rồi lại tới con sông Mekong. Nơi này là con đường mòn, nơi kia là chiếc lều tranh cô quạnh và mất hút giữa một biển rừng xanh.

 Houei Sai là một thị trấn của con sông Mekong với hai ngọn đồi. Một ngọn với ngôi đền thờ Phật, ngọn kia là một bệnh viện 50 giường của tổ chức Thomas Dooley trụ sở ở San Francisco, ngôi nhà của tỉnh trưởng và một lô-cốt bằng gạch có từ thời Pháp và họ đã rút đi từ 1954. Đường bay nhộn nhịp với những chiếc máy bay chở đồ tiếp tế cho các vùng định cư xa hơn về phía bắc. Nơi nhà kho của USAID, những người Lào với áo thung mang dòng chữ “Thêm mồ hôi, bớt đổ máu” , họ đang phân phát mền, các hộp dầu ăn và cả gạo. Cũng có cả  lúa mạch từ Mỹ. Hat lúa mạch được cán ra nấu chín và ăn thay cơm. Một người phu nói, “Dân họ chỉ hắn thứ đó khi nào thật là đói.”

 

THÁI LAN CANH GIỮ MỘT NỀN HÒA BÌNH MONG MANH.

Phía hữu ngạn là thị trấn Chiang Khong  thuộc tỉnh Chiang Rai Thái lan. Tôi dùng phà để đi qua. Gần đó là một cửa hàng trưng bày xe gắn máy Nhật và cả động cơ máy xay lúa của Tiệp khắc. Một gia đình Mèo đi bộ xuống phố chính. Tôi theo chân họ tới tận trạm xăng Shell nơi đầu dốc. Một trung sĩ cảnh sát Thái đang dùng ống nhòm xem trộm các thiếu nữ tắm dưới sông. Anh nói: “Cặp ống nhòm này thú vị lắm.” Mọi sự như trong cảnh thanh bình.

Rồi là tiếng lụp bụp của chiếc trực thăng Thái lan tuần thám ngược dòng sông Mekong. Trong năm qua các toán quân Mèo với súng tự động của Trung cộng từ Lào vượt qua sông Mekong, nhằm tạo một lực lượng nổi dậy ở Thái lan, tấn công các đồn cảnh sát thuộc tỉnh Chiang Rai. Thái lan bắt đầu cho máy bay ném bom trên các làng Mèo nằm trong lãnh thổ Thái.

Tôi thuê một thuyền máy với người tài công Thái và tính đi ngược dòng sông Mekong để xem tới sát Trung quốc được bao xa. Chúng tôi đi qua hai bờ cây xanh với rải rác những căn nhà sàn, lướt qua những người dân đang đánh cá, chèo xuồng dưới ánh nắng, trong mù sương hay dưới bầu trời vẩn mây. Tôi cảm thấy man mác nhìn những chòm cây đang cố cưỡng lại dòng nước sông đang lên, khiến cành lá phải cong rạp và chìm ngập trong làn nước nâu. Cùng đi với tôi là người bạn Thái lan tên Khamsing Srinawk. Anh là chủ trang trại, viết văn và nói được tiếng Anh. Gốc  gác từ đông bắc Thái, gần gũi với người Lào hơn là với người Thái ở Bangkok - với anh ta thì cả hai bên bờ con sông đều là nhà. Anh đúng là con người của nền văn minh Mekong nên anh rất thích nói về con sông ấy. Anh ta nói về những bài hát  “long khong”. Hai chữ ấy có nghĩa theo dòng sông Mekong. Đó là những bài hát đầy tiết điệu vui tươi, khởi đầu khoan thai rồi bất chợt rộn rã và các cặp trai gái có thể cùng hát giao duyên rằng nếu lấy nhau thì họ sẽ hạnh phúc biết chừng nào. Khamsing nói: “Đối với chúng tôi con sông Mekong là biểu tượng của du lịch và hạnh phúc.”

Sau ba giờ chúng tôi ghé vào khu tái định cư của người Yao thuộc Bản Nam Kueung, mua những trái dứa tươi và bắp luộc dễ bóc lại rất ngon. Có khoảng 4000 người Yao lánh nạn Pathet Lào và cộng sản Bắc Việt và cả tránh bom của không quân Hoàng gia Lào. Họ cũng có riêng một đội quân nhỏ với đồng phục xanh và nón đen. Các tay thương lái người Hoa ở Nam Kueung thì dùng ngựa thồ để đi lại buôn bán qua các vùng núi non.

Chúng tôi đi qua một khúc quanh chữ S của con sông Mekong qua những hòn đảo ngập nước, các vùng nước xoáy và giữa núi non có xen vào những trảng trồng lúa. Dân cư bắt đầu thưa thớt. Bên tả ngạn phía Lào một con voi đứng phe phẩy đôi tai. Rồi chúng tôi qua Chiang Sean, vốn là kinh đô của đấ quốc Thái vào thế kỷ 14.

 

LÍNH TÀU KIỂM SOÁT GÓC ĐỊA ĐẦU CỦA MIẾN ĐIỆN.

Sau tám giờ trên sông, chúng tôi đổ bộ vào ngôi làng Ban Kwan phía bên Lào. Trời bắt đầu sẩm tối, nhưng cho dù trời còn sáng thì thuyền máy của chúng tôi cũng không thể đi xa hơn. Hàng trăm dặm phía bắc gần biên giới Trung hoa là vùng tranh tối tranh sáng kiểm soát bởi các lực lượng thảo khấu và chẳng có chánh quyền nào thèm quan tâm tới. Bên kia sông là lãnh địa của Miến kiểm soát bởi lực lượng Quốc Dân đảng Trung hoa, đám người đào thoát ra khỏi Trung quốc sau chiến thắng của Mao Trạch Đông. Và bây giờ họ phục vụ cho các lãnh chúa trong số đó có những tay buôn bán ma túy.

Trên đường trở về Houei Say, chúng tôi dừng lại nơi một làng nhỏ phía Lào có cà máy cưa. Trên tường trong  ngôi nhà người chủ làng là tấm ảnh của một gia đình hạnh phúc với cha mẹ và ba đứa con. Bà vợ cho biết tấm hình được chụp cách đây 5 năm nơi một ngôi làng khác trước khi bị Pathet Lào tràn ngập. Rồi sau đó là vụ đụng độ của hai phe Quốc Dân Đảng buôn thuốc phiện. Cả gia đình phải dùng thuyền xuôi dòng đào thoát vào ban đêm. Thuyền bị đụng đá chìm và cả ba đứa con bị chết đuối. Bà ta tiếp, “Bây giờ thì chúng tôi có thêm được hai đứa.”

 

NGƯỜI NGOẠI QUỐC ĐỔ VỀ VẠN TƯỢNG.

Trên đường trở lại Vạn Tượng, tôi dừng lại Luang Prabang thủ phủ của Hoàng gia Lào, nằm giữa vùng núi non xanh um và khúc quanh của con sông Mekong. Những đền chùa lấp lánh tháp vàng. Cung điện Hoàng gia có một sảnh đường mới lát kính. Nơi bờ sông dàn nhạc đang chơi một tấu khúc Mozart. Ban nhạc Hoàng gia cũng đang tập các bài quốc thiều của Áo quốc, Úc, Pakistan và Thổ Nhĩ kỳ. Đại sứ các nước đang tụ về Vạn tượng để dự lễ cưới của Hoàng Thái tử.

Luang Prabang có 24 ngàn dân trong khi Vạn tượng có tới 150 ngàn. Các công trình xây cất mọc lên: một trường trung học, một bộ tư lệnh cảnh sát đồ sộ và cả một đài chiến sĩ trận vong. Ông Thị trưởng Vạn tượng ghi nhận những nét đổi thay với vẻ không vui gì: “Những người Âu châu, Mỹ, Thái, Tàu và Việt nam ngày tới một đông.” Đa số người Mỹ làm cho cơ quan USAID và sống với gia đình họ ở Cây Số 6 - một vùng ngoại ô với đường sá sạch sẽ ngăn nắp, có sân chơi dã cầu và cả Đoàn Hướng đạo. Ông Thị trưởng không chống đối gì chuyện này vì mọi thứ súng đạn, gạo và lương phát cho lính Hoàng gia đều do USAID trực tiếp hoặc gián tiếp cáng đáng. Hoa kỳ đã viện trợ quá nửa số chi tiêu của chánh phủ Lào.

Ông Thị trưởng nói: “Như ông thấy thay đổi lớn nhất nơi đây là cuộc sống biến thành cạnh tranh như cuộc chiến đấu để sinh tồn.” Tôi hỏi ngược lại là cạnh tranh không phải là điều tốt sao. Ông ta đáp, “Nói như một người Lào thì điều đó chẳng tốt gì. Chúng tôi cũng không ngăn được người ta đổ tới đây, nhưng chúng tôi muốn có một đời sống yên tĩnh hơn.”

Một buổi sáng yên tĩnh, tôi thấy một bé gái đang dùng rổ vớt cá trong một cái vũng. Tôi xin được coi cái gì  ở trong giỏ: 4 con ếch, mươi con cá nhỏ, một con cà cuống mỡ và ít rau cải soong. Tôi hỏi cô bé: “Thứ nào em ưng nhất?” “Con ếch bự vì có nhiều thịt.” Tôi lội xuống bùn và thử vớt cá với chiếc rổ của cô bé. Sau hai lần thử tôi mới bắt được con cá nhỏ cỡ hơn hai phân. Cô bé cười lớn. Cô nói chỉ mới bắt đầu, chỉ một tiếng nữa là cô có thể bắt đủ ăn cho cả hai gia đình. Dĩ nhiên là ăn với cơm. Cô nói, đến mùa khô thì cô bé đi đào cua, dễ bắt mà lại béo nữa.

Tôi cứ mải suy nghĩ và muốn biết là người Lào liệu có hạnh phúc hơn không nếu cứ để cho họ sống cuộc đời giản dị bên bờ con sông Mekong ấy?  Tôi hỏi Oukeo Souvananvong là thành viên Ủy ban sông Mekong. Anh nói: “Dân Lào chúng tôi bản chất vui tươi, không nhiều tham vọng như các ông. Họ có ít nhu cầu và không có ham muốn đòi hỏi thêm gì hơn. Ngay cả khi đói họ cũng không than van nữa.” Rồi tâm trạng Oukeo như thay đổi đột ngột. “Hạnh phúc của dân chúng tôi là dựa trên sự ngu dốt. Tuy không có thống kê chính xác nhưng dân số Lào thì đang giảm dần. Tử vong trẻ em lên tới 60-70 %. Ông nghĩ coi, cứ 10 đứa trẻ thì có  6 hay 7 đứa chết. Không có viên chức Lào nào mà lại vui cho được với tình trạng như vậy.” Anh ta lặng lẽ nói tiếp: “Không phải chỉ có vấn đề thực phẩm mà còn do quá nhiều bệnh tật nữa. Chúng tôi phải thăng tiến mức sống toàn diện. Do đó Kế hoạch sông Mekong quan trọng biết chừng nào!”

 

ĐỒNG LÚA ĐƯỢC MÙA MƯA TƯỚI BÓN.

Tôi lái xe tới khu trang trại thí nghiệm: Dự án Thí điểm Vạn tượng, một nỗ lực song phương của chánh phủ Lào và Do Thái, nằm trong kế hoạch hoạt động của Ủy ban sông Mekong giúp cho 250 gia đình gia tăng năng xuất lúa đồng thời thay đổi các tập quán cũ để chuẩn bị cho ngày các con đập được xây cất.

Amos Ben Mayor người Do thái chỉ cho tôi những đường dẫn thủy và cả các giống lúa mới. Mười hai loại giống từ Đài loan, thêm các giống Thần nông IR-5, IR-8, IR-52 từ Viện Lúa Gạo Quốc tế Phi luật tân. Với các loại giống ấy có thể tăng năng xuất canh tác trong vùng Hạ lưu sông Mekong từ mức đủ nuôi sống lên tới mức thặng dư để xuất cảng. “Một vụ mùa mỗi năm là chỉ do nước mùa mưa.” Để tăng thêm vụ trong mùa khô không phải chỉ có thủy lợi mà còn phải mua thêm phân bón. Để thuyết phục được người nông dân, phải chứng minh cho họ thấy các giống lúa mới sẽ tăng năng xuất một cách ngoạn mục. Và chúng tôi đã chứng tỏ điều đó. Giống lúa thông thường chỉ đem lại 1300 cân Anh một mẫu nay lên tới 2 tấn một vụ trong mùa khô. Khởi đầu thí nghiệm trên đất chúng tôi sau đó là trên ruộng của họ. Bây giờ nông dân ở đây đã có thể trồng hai vụ.”

 

CANH TÁC KHOA HỌC  LÀ XÚC PHẠM THẦN LINH.

Sự thật có quả là dễ dàng như vậy không? Không hẳn là như vậy. Ben Mayor nói anh còn phải đương đầu với cả vấn đề khác,  đó là vấn đề thần linh. “Một nông dân cho chúng tôi mượn đất đặt trạm bơm đầu tiên. Nhưng khi máy bơm bắt đầu hoạt động rồi ông ta không để cho chúng tôi xử dụng nữa. Ông giải thích là từ khi máy bơm hoạt động thì ông cứ bị đau ốm hoài. Rõ ràng là đã xúc phạm tới thần linh. Nếu chúng tôi còn tiếp tục chạy máy bơm nữa thì ông chỉ có chết. Và rồi chúng tôi phải nhờ nhà sư tới cúng quảy theo đúng lễ nghi để xua đuổi ma quỷ và rồi chúng tôi lại có thể cho chạy máy bơm trở lại. Có lẽ thử thách lớn nhất cho Trại Thí nghiệm Vạn tượng là vấn đề tâm lý. Cũng vẫn Ben Mayor giải thích tiếp: “Anh có thể tưởng tượng là người ta thèm muốn ra sao khi thấy người hàng xóm có được chiếc radio transistor hay mua được xe gắn máy nhờ vụ gặt thứ hai? Và bây giờ chúng tôi bắt đầu thử tăng lên ba vụ.” Và để rồi tao ra nhu cầu có máy điều hòa không khí? Trong khi máy nhiệt điện dầu cặn ở Vạn tượng chỉ có công suất 6000 kilowatts. Các tủ lạnh, máy điều hòa không khí thường xuyên bị hư hỏng vì dòng điện quá trồi sụt và càng ngày càng yếu đi.

Nhưng đang có hứa hẹn về một nguồn điện phong phú. Con đập trên phụ lưu Nam Ngum đang được dự trù hoàn tất vào năm 1971; và hồ chứa sẽ đầy nước năm 1972. Trong thời gian chờ đợi, Vạn tượng được cung cấp thêm điện từ nhà máy nhiệt điện mới của Đức và cả điện dẫn từ con đập Nam Phong bên Thái lan. Đường dẫn điện qua con sông Mekong thuộc Ủy ban sông Mekong đã được thiết lập, trạm phân phối điện đang được xây cất dưới quyền giám sát của Nhật.

Từ Vạn tượng tới Cambốt con sông Mekong chảy xuôi thêm 525 dặm, trong đó có 415 dặm là biên giới thiên nhiên giữa Thái Lào - nhưng không phải là đường ngăn chặn bọn khủng bố hay những vũ khí được cất dấu trong những thuyền bè qua lại.

Trung tướng Javalit Tamthai, tư lệnh Cảnh sát Hàng hải Thái vừa nhận được 13 giang thuyền tuần phòng với đại liên 50 ly do tiền của cơ quan USAID. Tổng cộng ông ta có 23 chiếc và ông nói : “Tôi cần ít nhất là 50 chiếc.” Nhưng cho dù có cả trăm chiếc đi nữa làm sao mà kiểm soát được hàng trăm thuyền bè qua lại của cả người Thái và Lào khi mà họ không coi con sông Mekong là đường biên giới?

Một đại tá Thái lan nói sự xâm nhập chưa bao giờ tồi tệ đến như vậy. Ông ta thuộc bộ Tư lệnh Hành quân Tiễu trừ Cộng sản, và tỏ ý lo ngại cho các phi trường ở Nakhon Phanom, đối diện với tỉnh Thakhek bên Lào. Từ căn cứ Thái này hàng ngày tung đi các phi vụ oanh kích Bắc Việt và các phi đoàn cấp cứu đem về các phi công Mỹ bị bắn hạ ở cả Bắc Việt và Lào. Được biết là bọ khủng bố có kế hoạch tân công căn cứ Nakhon Phanom.

Đối nghịch lại với một bối cảnh bất an như vậy, các dung cụ đo đạc đặt hai bên bờ con sông Mekong vẫn tiếp tục thu thập các dữ kiện cho Ủy ban sông Mekong. Người ta lấy các mẫu chất lắng, đo mức thủy lưu và mức lên xuống cao thấp của dòng sông. Từ Pakse, Jacques Van Remoorteer, người Bỉ đưa tôi tới thăm toán khảo sát trên thác Khone. Pathet Lao vẫn theo dõi chúng tôi và họ đánh tiếng với Jacques qua trung gian người phụ tá Lào rằng họ sẽ không can thiệp vào công việc của Ủy ban sông Mekong chừng nào chúng tôi không yêu cầu sự bảo vệ của quân đội hay cảnh sát.

 

THỊ TRẤN MỌC NƠI TƯỢNG PHẬT TRÔI DỪNG LẠI.

Tôi tới Nam vang, thủ đô Cambốt với 600 000 dân thành phố lớn nhất bên bờ con sông Mekong.

Nam vang yên tĩnh. Buổi tối phố xá vắng. Tôi thấy một bệnh viện do Liên xô xây, một nhà máy thủy tinh do Trung cộng viện trợ. Một xa lộ lớn về hướng nam tới Shihanoukville bên bờ vịnh Thái lan được xây bằng tiền viện trợ Mỹ. Rồi kể từ 1963, Cambốt từ chối nhận thêm viện trợ Mỹ do những bất đồng với chánh sách của Mỹ ở Nam Việt nam. Và bang giao hai nước bị gián đoạn từ 1965.

Trong khu hoàng cung tấp nập những khách du lịch. Một viên chức trong hoàng cung nói với tôi, “Chúng tôi cầu mong hòa bình cho mọi người. Tôi mến người Mỹ, họ dễ thương và đẹp như bà góa phụ tổng thống Kenedy.”

Nơi bến sông hoàng gia là một cung điện nổi lên xuống theo nhịp điệu của con sông Mekong. Cảnh trí hùng vĩ  khi nhìn về nơi bốn nhánh sông  tụ lại. Con sông Tonle Sap hay là con “sông nước ngọt” một phụ lưu có thể đổi dòng. Vào mùa khô con sông chảy xuôi dòng, nhưng lúc này là mùa mưa do dòng chính dâng cao và nước con sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ, 80 dặm về hướng tây bắc.

Khi mùa mưa chấm dứt vào tháng 11, con sông đổi chiều trở lại.

Tôi lái xe dọc theo sông Tonle Sap đi tới khu đền đài Angkor, một kỳ quan du lịch của Đông Nam Á. Đó là một quần thể những thành lũy lâu đài đẹp tinh tế và vĩ đại, một kiệt tác phẩm của con người một thời trong vùng Hạ lưu sông Mekong.

 

HỒ NƯỚC TRỊ BÁ BỆNH.

Tôi thích nhất Neak Pean. Đó là một ngôi tháp nằm giữa một hồ vuông nhân tạo nay đã khô cạn; biểu tượng cho một khu hồ kỳ diệu trong dãy Himalaya có khả năng trị bá bệnh. Thuở xa xưa những đoàn người hành hương tới Neak Pean để đằm mình trong nước hồ trị bệnh ấy. Trên đâylà lời dẫn giải của người am tường nhất về khu đền đài Angkor, giáo sư Bernard Phillippe Groslier, người lo trùng tu Angkor. Ông đưa ra một lịch sử đậm đà.

“Vào thế kỷ thứ 5 và thứ 6, trên vùng đất đầm lầy của đồng bằng châu thổ, vương quốc Phù Nam đã biết đào những kinh rạch để thoát lũ và chống nước mặn xâm lấn. Vào thế kỷ thứ 6 và thứ  7, nền văn minh Chenla ở trung tâm vùng hạ lưu sông Mekong đã biết giữ nước từ triền núi thoát xuống con sông Mekong để có thể trồng trọt trên những rẻo cao ấy.

Và rồi bắt đầu thế kỷ thứ 9, nền văn minh Angkor Khmer đã học được cả hai cách cả giữ và tháo nước. Người Khmer định cư trên bờ Biển Hồ với mùa lũ và mùa khô. Họ biết điều hòa nước với những kinh rạch và đập nước, và họ đào lên những hồ nhân tạo rất lớn có tên là barays. Và họ đã có thể trồng hơn một vụ lúa mỗi năm. Sức mạnh kinh tế ấy được phản ánh trên những khu đền đài này.”

Giáo sư Groslier có nhiều phòng thí nghiệm và hàng ngàn công nhân để cứu vãn trung tu Angkor. Ngân khoản một nửa do Cam bốt một nửa của Pháp.

Giáo sư và nhóm người của ông đã gần hoàn tất việc dựng lại Baphuon - như một trong những công tác tái thiết lớn nhất của thế giới. Ông nói tiếp:

“Nếu chúng tôi vẫn có thể giữ nhịp độ làm việc này trong 20 năm, toàn khu Angkor có thề được trùng tu. Một triệu đô la một năm không phải là nhiều. Vấn đề là quyết tâm muốn làm và có hòa bình.”

Nơi thị trấn tỉnh Siem Reap, tôi nói chuyện với ông tỉnh trưởng Lok Lean. Với viện trợ Mỹ đã có nhiều thăng tiến trong vùng khi nào mà Cambốt và Mỹ còn giao hảo tốt đẹp. Ông ta ám chỉ là trước khi Cambốt đoạn giao với Mỹ. Baray Tây là một khu hình chữ nhật dài 5 dặm rộng hơn một dặm. Phân nửa đã bị phù sa lấp đầy nhưng phần còn lại là mặt nước xanh lấp lánh trong làn gió nhẹ. Nước chảy đổ vào một con kinh  dài 136 dặm tiêu tưới cho một vùng với hơn 2000 gia đình nông dân trồng lúa hai vụ mỗi năm, có nhà gỗ lợp ngói, có xe gắn máy và radio.

Viên kỹ sư canh nông trong tỉnh nói: “Trước đây họ nghèo và ở nhà mái lá. Đám trẻ thì đã bỏ làng đi xa. Nhưng bây giớ thì họ ở lại và kiếm ra nhiều tiền.”          

Trở lên Nam vang là những chiếc tàu biển lớn ngược dòng sông Mekong đem tới những chiếc xe hơi Nhật và rồi chở heo xuất cảng sang Hongkong.

Sau đó tôi lại ngược dòng sông Mekong trên một chiếc du thuyền do chánh phủ hoàng gia cấp.

 

KÍCH THÍCH TỐ CHO NHỮNG CÂY CAO SU GIÀ.

Vẻ phồn thịnh hai bên bờ sông với những cây chuối, cây thốt nốt, cây thuốc lá, khoai ngọt và bắp. Những chồng bao gạo sắp chờ trên bãi. Do dự trù tới Prek Kak khu trồng cao su duy nhất bên bờ sông Mekong nên chúng tôi không dừng lại nơi nào, ngay cả Kompong Cham, nơi có nhà máy bông và thuốc lá.

Ông Henry Seguin là giám đốc gốc từ Paris. Ông cho biết có khoảng 1 800 000 cây cao su trên diện tích 12 000 mẫu và với ăng xuất vượt bực: 1700 cân Anh cao su thô trên mỗi mẫu/năm, năngsuat cao nhất so với bất cứ đâu, và phẩm chất cũng lại cao nhất nữa. Sản phẩm của ông ta bán ra khắp thế giới, cả Mỹ nhưng chủ yếu là Pháp. Ông Seguin cho biết bốn năm trước đây khu rừng cao su gặp khó khăn. “Giá cao su sụt giảm. Chúng tôi suy nghĩ phải làm gì bây giờ? Chúng tôi giảm phí tổn và tăng năng xuất bằng cách hiện đại hóa.” Và công ty Cao su Mekong do người Pháp làm chủ lại bắt đầu sinh lời.

Buổi sáng nơi rừng cao su trong thứ ánh sáng  như ngọc, nét kỹ thuật hiện đại được thấy rõ. Thân cây cao su được lóc từ hai mức cao và thấp. Mốt số cây già được cho kích thích tố và được cẩn thận ghi dấu.

Phần còn lại chuyến đi ngược dòng sông Mekong ở Cambốt đã gợi nhớ cho tôi nhiều điều lẫn lộn. Xế chiều là cảnh người và trâu xuống sông để đằm mình và tắm rửa...

Tôi nhớ tới vị trí sẽ xây những con đập. Mai đây một con đập lớn sẽ mọc lên ở Sambor. Một con đập lớn hơn trên dòng chính ở Stung Treng.

Và tôi nhớ khi đang nói chuyện với vị sư cả trong tu viện trên đồi, thì nghe vang rền tiếng bom nổ thả từ B-52 của không lực Mỹ từ phía nam Việt nam hướng tỉnh Tây ninh cách đó 40 dặm. Tôi hỏi tiếng nổ ấy có thường không? Vị sư cả đáp, “Không phải mỗi ngày, nhưng đôi khi làm rung cả cửa kính và khiến dân chúng hoảng sợ.”

 

NHỮNG CON ĐẬP HỨA HẸN VÀ CẢ GÂY CHUYỆN.

Sambor và Stung Treng, Pa Mong và Nam Ngum, tất cả những dự án này đều được điều hợp từ Bangkok vốn nằm ngoài vùng Hạ lưu sông Mekong nhưng là một thành phố nhộn nhịp nhất Đông Nam Á và là trụ sở của ECAFE, Hội đồng Kinh tế Á châu và Viễn đông của tổ chức Liên Hiệp quốc. Nơi hoạt động nhộn nhịp của ECAFE và Ủy ban sông Mekong. Nơi của chuyên viên và các  dữ kiện được đem ra khảo sát. 

Một kỹ sư Đài Loan nói: “Khi chúng tôi bắt đầu năm 1957 thì ai cũng cười. Anh làm được gì khi không có dữ kiện? Anh có bao nhiêu nước? Dân số ra sao? Chúng tôi dự đoán nhiều điều và nay cũng khá gần với thực tế. Đập Pa Mong đang trở thành một hiện thực. Không còn ai cười chúng tôi nữa.”

Pa Mong, Stung Treng, Sambor: làm sao có thể hoạt động đồng thời và tận dụng tối đa con sông Mekong? Làm sao thiết kế để cùng đem lại hiệu quả. Hệ thống điện toán IBM đã hoạt động. Chuyên viên Mỹ và Pháp đang hướng dẫn cho các thảo chương viên Thái và Lào. Các nhà kinh tế đang khảo sát kỹ tường trình của các nhà địa chất. Không có khoáng bauxite. Liệu có nên nhập cảng để tinh luyện nhôm với năng lượng điện rẻ sắp có? Vô số những đá kiềm, loại nhà máy hóa chất nào có thể xử dụng chúng? Nhiều chuyên viên rất quan tâm là các đập sẽ ảnh hưởng trên môi sinh ra sao?

Những gì sẽ xảy ra cho các vùng lũ lụt mỗi năm nay thì khô quanh năm, bảo rằng để kiểm soát lũ?  Trừ khi được dẫn thủy và thêm phân bón sớm nếu không đất trở thành cứng như đá hay vỡ mục thành bụi. Điều này đã xảy ra ở Pakistan.

Các hồ chứa sẽ tạo ra những bờ nước dài, liệu có tạo sinh thêm những loài sên mang mầm bệnh. Điều này đã xảy ra ở Ai cập.

Thế còn cá trên con sông Mekong sẽ ra sao? Một nhà ngư học người Ấn nói: “ Tôi nghĩ cá Pla buk sẽ bị tiêu diệt.” Pla buk là một loại cá bông lau khổng lồ dài tới 10 bộ. Con lớn nhất cân được 1216 cân Anh. Pla Buk chỉ sống trong sông Mekong và bắt cá Pla Buk là một dịp hội lễ đối với người Lào và Thái.”

Một ngư dân nói: “Cá Pla Buk phải di trú để sinh đẻ, và các con đập sẽ chấm dứt sự di trú này. Cá Pla Buk không có giá trị kinh tế lớn, mỗi năm chỉ bắt được khoảng 30 con. Nhưng thật đáng buồn nếu thấy chúng sắp bị tiêu diệt.”  

Các con đập có tạo nên những vấn đề cho mọi giống cá dù có di trú hay không. Cá sinh sản tùy theo nhiệt độ và vận tốc của dòng nước. Mọi thay đổi đột ngột do các con đập sẽ tạo những ứng suất quá mức khiến nhiều giống cá không sống được.

Người ta có thể đưa vào những giống cá mới. Trừ khi các khoa học gia và viên chức chánh phủ có đáp ứng kịp thời nếu không thì hậu quả các con đập lớn sẽ làm sút giảm nghiêm trọng số lượng cá. Điều này cũng dẫn tới sự phát triển quá mức những loại cây bất ưng có thể làm nghẽn các hồ chứa. Điều này đã xảy ra ở Zambia.

 

HỒ MỚI ĐEM LẠI THỊNH VƯỢNG.

Và liệu những con đập sẽ đem lại gì cho dân cư? Tôi lái xe lên miền đông bắc Thái lan khô cằn để thấy những gì đang xảy ra chung quanh con đập Nam Phong.

Đó là một cảnh tượng kỳ diệu, hồ chứa mới trải rộng ra tới những ngọn đồi xa cuối chân trời. Đi sâu vào phía trong khu nhà máy phát điện là một turbin khổng lồ chế tạo tại Đức. Quanh tôi là tiếng máy ầm ì. Người kỹ sư Thái nói: “167 vòng trong một phút, 63.1 m3 nước trong một giây...” Bên bờ hồ chứa mọc lên một ngôi làng mới. Chợ cá cung cấp hàng tấn cá mỗi ngày. Các ngư dân khắp vùng đông bắc đổ về đây. Những chiếc thuyền máy chở gạo băng qua hồ và những xe vận tải di chuyển trên con lộ mới. Nhưng món hàng chính vẫn là cá. Một thương lái người Hoa mua một lố cá giống loại cá chép để bán cho mấy tay trung gian đem tới các chợ nơi các thành phố cao nguyên Khorat.

 

LOẠI CÁ CÓ THỂ LÀM NGƯ DÂN SẠT NGHIỆP.

Một chiếc xe tải đến từ Vạn tượng để chở một loại cá đầu rắn. Một chuyên viên ngư nghiệp từ Bangkok đã nói cho tôi nghe về loại cá săn này, có con dài tới ba bộ và với nhiều hàm răng sắc. Cá đầu rắn có thể gây thảm họa cho ngư dân. 

Sau khi hồ chứa đầy nước, ngư dân giải thích rằng cây cối chìm sâu sẽ tạo nhiều thực phẩm cho cá. Cá sẽ sinh sôi và mau tăng trưởng. Ngư nghiệp sẽ tốt hơn. Nhưng đồng thời loại cá săn đầu rắn này cũng tăng và ảnh hưởng tới ngư nghiệp do chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau. Vấn đề cấp bách với đập Nam Phong là phải diệt loại cá đầu rắn và mau chóng đưa vào các loại cá chép và cá chép bạc. Nhưng cho đến nay các viên chức hữu trách cũng chưa hành động gì.

Tôi ngủ qua đêm ở thị trấn Khon Kaen thưởng thức điện qua chiếc máy điều hòa không khí, một nhà bowling mới điện sáng chưng và một rạp chiếu bóng phim Tàu. Vào buổi sáng hôm sau  tôi đi rảo quanh khu tái định cư  cách hồ chứa 5 dặm, nơi sinh sống của các gia đình phải di tản đi khi hồ nước dìm ngập đất đai của họ. Khu hành chánh trưng bày sơ đồ của 28 khu định cư nhỏ. Tôi tới khu tái định cư Làng số 5 và kinh ngạc. Trong một ngôi lều là một người đàn bà bệnh lao nằm mòn mỏi. Một thầy mằn tới từ Khon Khaen và cho bà những viên thuốc. Cùng trong lều là ông chồng, sáu người hàng xóm và người chủ Làng 5. Ông chồng nói, “Vợ tôi quá mệt không thể đứng lên hay đi lại được.” Ông chồng ở tuổi 60, tiếp: “Tôi cưới vợ năm 22 tuổi và lúc nào cũng có lúa ở trong kho. Bây giờ thì gia đình tôi phải đi ăn xin.”

Người xã trưởng nói: “Chánh phủ Thái hứa hẹn cho vay lời thấp và giúp việc dẫn thủy.”Những lời hứa như vậy có giá trị gì không? Dân tới ở đây từ 1964. Trước đây họ cấy một vụ mỗi năm và bây giờ thì chẳng có một vụ nào.

Bên ngoài đất đai khô cằn và bụi cát. Tôi gặp mấy người Tân Tây Lan đang đặt ống dẫn nước, nhưng chỉ mới có 12 trong số 28 làng và ngay trong số 12 làng đó cũng chỉ có đủ nước cho những vườn nhỏ. Một người trong toán giải thích là có nước nhưng thiếu tiền mua ống dẫn nước.

Cũng vẫn ông xã trưởng nói: “Mấy người giàu từ Bangkok tới đây bỏ lại mấy thùng đồ mà họ bảo là quần áo. Chúng tôi vui mừng nghĩ rằng sẽ có quần áo tốt. Nhưng khi chúng tôi giở ra thì toàn là đồ rẻ rách. Chúng tôi đau biết chừng nào và cứ như trên trời rơi xuống. Và chúng tôi liệng chúng vào đống rác.” Một khác trong lều nói: “Người cộng sản đã bảo cho chúng tôi biết bọn nhà giàu đó ra sao.”

Khi trở lại Bangkok, các viên chức Ủy ban sông Mekong giải thích với tôi rằng họ chẳng thể bảo chánh quyền phải làm gì. Hy vọng của họ là những dữ kiện và sự thuyết phục.”

 

SÔNG NƯỚC ẨN KHUẤT VIỆT CỘNG.

 Chặng chót tôi tới Nam Việt nam. Ở Sài gòn tôi gặp Chu Quốc Trang người bạn trong mấy chuyến thăm trước. Một người Mỹ nói cho tôi biết về viễn cảnh của vùng châu thổ sông Mekong.  

“Đó là nơi mà Việt cộng kiểm soát và có ảnh hưởng.” Một viên chức Tòa Đại sứ Mỹ đã nói với tôi như vậy. Một tướng lãnh Mỹ phát biểu: “Châu thổ là vùng rối rắm nhất. Bảo là không có quân Bắc Việt nhưng Việt cộng đã có tất cả vũ khí mới. Hãy tưởng tượng tới 5500 dặm chiều dài những mạng lưới sông rạch, thật khó khăn để mà hành quân nơi đó.” Vùng châu thổ cách Sài gòn 30 dặm về hướng nam. Chánh phủ Nam Việt Nam gọi đó là Vùng 4 Chiến thuật: bao gồm 16 tỉnh và 92 quận trải ra trong một diện tích rộng hơn Hà Lan, khoảng 6 triệu dân với nhiều tôn giáo đặc thù của vùng châu thổ. Theo những chuyến bay quân sự tôi đã thấy những cảnh tượng khá kinh hoàng: cả một vùng xanh phẳng mênh mông đan giữa nhưng kinh rạch lớn nhỏ, giống như trong một mạng nhện khổng lồ, xuyên qua là những nhánh sông nâu lớn của con sông Mekong. Khúc những con kinh lớn tiếp nối với dòng sông là các thị trấn như  Sóc Trang, Long Xuyên, Cần Thơ. Nhiều thị trấn có cầu băng qua những con kinh nhưng đa số cũng đã bị Việt cộng giật sập. Cảnh đồng quê thì trụi lá vì thuốc khai quang; khắp nơi đầy những hố lớn nhỏ do bom B-52 hay đạn trọng pháo.

Ủy ban sông Mekong đang làm gì ở đây? Giải quyết  một vấn đề xưa cũ là có quá nhiều nước. Đã có những thử nghiệm về đắp đê và dẫn thủy giống như người Hà Lan đã làm. Hay đổi dòng những con kinh lớn để có thể thoát nước vào vịnh Thái lan và giải quyết đất bị úng thủy. Giải pháp này đã có hiệu quả thời đế quốc Phù Nam xưa. Giải pháp nào cũng nhằm giảm thiểu độ xâm nhập của nước mặn từ biển Đông. Trong mùa khô khi lưu lượng con sông Mekong xuống thấp, nước mặn có thể lấn vào tới nửa phần châu thổ. Nhưng bây giờ thì chẳng có kế hoạch nào được thực hiện khi mà sự di chuyển của viên chức chánh phủ và người ngoại quốc hoàn toàn bị hạn chế. Tôi thấy rõ điều đó ở ngay một quận lỵ nhỏ Ô Môn không xa Cần Thơ một thị trấn lớn nhất trong vùng châu thổ.

 

NGUY HIỂM RÌNH CHỜ KHI CHIM SƠN CA HÓT.

Tôi muốn tìm hiểu tâm trạng của những người Việt sống nơi đồng quê. Tôi hy vọng lại được nghe tiếng chim sơn ca hót từ bình minh tới hoàng hôn - như người bạn thân thiết của nông dân. Liệu tôi có thể ra khỏi quận lỵ Ô Môn cách đó một dặm để ngồi bên một cánh đồng lúa? Ông Quận trưởng trả lời là không, không thể có 30 người để bảo vệ cho tôi. Năm ngoái tình hình khá hơn, chỉ một tiểu đội là đủ.

Liệu tôi có thể đi với một người cảnh sát ra khỏi quận lỵ cách đấy vài trăm mét và ngồi lại đó? “Không, vì ông có thể bị bắn sẻ.” Vậy tôi có thể ngồi trong một quán cà phê ngay trung tâm quận lỵ dọc theo con kinh? Không, vì có bọn chuyên bắn sẻ bên kia bờ kinh, chúng không gây phiền hà cho người Việt nhưng với người ngoại quốc thì đó là mục tiêu tốt.

Ông Quận trưởng có vẻ hơi quá thận trọng, tuy nhiên một người ngoại quốc chết thì không vui gì cho cấp trên và lại cả nhiều thủ tục giấy tờ phiền phức. Nhưng đó chính là thực trạng châu thổ ngày nay.

Và cuối cùng thì tôi cũng ngồi trong một quán cà phê bên bờ sông của thị trấn Cần Thơ, ngắm những con phà phà thuyền bè qua lại. Nhiều chiếc thuyền có vẽ cặp mắt đỏ nơi mũi chắc để đe quỷ thần trên sông.

 

TRAI NHÀ GIÀU KIẾM VỢ CẦN THƠ.

Anh bạn tôi tên Trang bảo Cần Thơ nổi tiếng với những cô gái dáng đẹp da hồng. Thuở xưa trai nhà giàu ở miền Nam nghĩ rằng phúc đức mà cưới được những cô gái Cần Thơ gia đình nền nếp. Và tôi may mắn được giới thiệu với một phụ nữ như vậy. “Tôi nghe nói ngày xưa đàn ông Việt nam tìm cưới phụ nữ Cần Thơ vì mê nhan sắc các cô...” Cô bảo: “Ông đúng là người rất hiểu biết.” Tôi hỏi: “Vậy đàn ông Việt còn thích tìm tới các cô gái Cần Thơ hay không?” Cô ta nói: “Có chứ, nhưng chẳng may là tôi chưa tìm ra người đàn ông nào đắc ý. Vậy chứ ông còn ở đây lâu không?” Tôi nói rất tiếc là tôi phải rời nơi đây trong vài ngày tới và tôi phải thú thực rằng mình có hơi đỏ mặt lúc đó.

Đại học Cần Thơ như tượng trưng cho những gì xảy ra trong vùng châu thổ đầu năm nay. Tòa nhà chính bốn tầng đẹp đẽ thì nay đổ nát gợi nhớ cuộc tổng tấn công của Việt cộng trong dịp Tết vừa qua.

Viên phụ tá Viện trưởng nói với tôi rằng vào buổi sáng ngày 6 tháng 2  một trung đội Việt cộng với cả trọng pháo xâm nhập vào khu gia cư gần trường đại học, họ ngụy trang giống như Thủy quân Lục chiến của miền Nam. Cuộc giao tranh chỉ kết thúc sau khi toàn vùng bị cả pháo binh và không lực của của cả Nam