Đất ngập nước bị đe dọa.

 

Tại lễ kỷ niệm Ngày đất Ngập nước 2/2 tổ chức ở Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên&Môi trường, TS Phạm Khôi Nguyên, cho biết, trong quá tŕnh khai thác và sử dụng đất ngập nước, các vấn đề bức xúc về môi trường vẫn không giảm: "Môi trường sống và di cư của nhiều loài sinh vật, đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên đất ngập nước bị suy giảm nghiêm trọng, đe doạ các hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngập nước. Các loại chất thải ngày càng gia tăng cộng với nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản bằng các phương pháp có tính huỷ diệt. Nạn chặt phá rừng ngập mặn, phá huỷ rạn san hô đi kèm sử dụng không hợp lư hoá chất bảo vệ thực vật và phân bón trong sản xuất nông nghiệp...".

Việt Nam tham gia Công ước Ramsar (công ước các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế) từ năm 1989 nhưng, đến nay, cả nước vẫn chỉ có một điểm Ramsar duy nhất được khoanh định. Đó là VQG Xuân Thuỷ với tổng diện tích 12.000ha thuộc vùng cửa sông Hồng thuộc tỉnh Nam Định. Phải thừa nhận Chính phủ đă rất nỗ lực đăng kư bổ sung một số điểm Ramsar như đề nghị UNESCO công nhận khu rừng ngập mặn Cần Giờ là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam, xác định 68 vùng đất ngập nước có tầm quan trọng về đa dạng sinh học và môi trường trong đó một số vùng đất ngập nước được bảo vệ dưới dạng rừng đặc dụng, triển khai đánh giá sơ bộ để đề xuất thành lập 15 khu bảo tồn thiên nhiên.

Mặc dù vậy, các vùng đất ngập nước vẫn chưa thực sự là hạng mục quản lư riêng về sử dụng và bảo tồn đất. T́nh trạng quản lư các vùng đất ngập nước bị phân tán trong các ban và bộ khác nhau của Chính phủ. Các chính sách tách biệt nhau gây ra các hoạt động mâu thuẫn nhau ở cơ sở. Có nơi trồng lại rừng ngập mặn chưa gắn kết với nuôi tôm và với bảo vệ rừng ven biển. Chỉ riêng đất ngập nước ven biển nước ta, Thống kê của Ngân hàng Phát triển châu á đưa ra bức tranh màu xám như 1755km chiều dài đường bờ bị ô nhiễm, trong đó 615 km chiều dài đường bờ bị ô nhiễm nặng, và 712 loài bị đe doạn ở các vùng đất ngập nước ven bờ.

Do công tác quản lư đất ngập nước c̣n nhiều hạn chế và không làm rơ được các chức năng và giá trị của các cùng đất ngập nước, nhất là các vùng đă được phân cấp, các hệ sinh thái vẫn đang bị tổn thất với tốc độ đáng báo động. Tại châu thổ sông Mê Kông, chỉ riêng tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu (trước đó là tỉnh Minh Hải) chuyển đổi hơn 80% diện tích rừng ngập mặn thành ao nuôi trồng thuỷ sản suốt 40 năm qua. Các vùng đất ngập nước nội địa như rừng tràm cũng đang bị áp lực lớn do thâm canh nông nghiệp, huỷ hoại các con sông và phá rừng. Biến đổi chế độ thuỷ văn vùng thượng lưu có tác động gián tiếp đến các vùng đất ngập nước ven biển, những nơi có ư nghĩa quan trọng đối với việc pḥng hộ ven biển.

Thách thức đối với đất ngập nước là rất to lớn. Các hệ sinh thái đất ngập nước của nước ta chiếm diện tích rộng lớn nhưng hầu như chưa được chú ư đầy đủ và đánh giá đúng mức cũng như thiếu sự đảm bảo về thể chế và pháp lư. Cần có những nỗ lực trung và dài hạn để xây dựng cơ sở tri thức, khung thể chế và pháp lư, nâng cao nhận thức của cộng đồng và những người làm chính sách cũng như tăng cường năng lực ở các cấp đă được phân cấp để quản lư hợp lư đất ngập nước. Tuy nỗ lực như vậy có thể bắt đầu bằng một chương tŕnh tương đối nhỏ song chắc chắn theo thời gian nỗ lực đó cần được phát triển thành một hệ thống toàn quốc toàn diện trong lĩnh vực đất ngập nước mới mong đạt được sự quản lư hợp lư đất ngập nước.

+ Đất ngập nước có thể là nước ngọt, nước mặn hay nước lợ, do đó bao gồm cả vùng cửa sông, đầm phá ven biển và rừng ngập mặn. Đất ngập nước là vùng đất có nước ngập quanh năm hay tạm thời, và vùng đất đó phải có các động, thực vật sinh sống dưới nước.

+ Chưa tính đến vùng đất ngập nước ở châu thổ sông Hồng, sông Mê Kông và vùng nội địa, tài nguyên đất ngập nước của Việt Nam chỉ tính riêng vùng ven biển cũng rất phong phú: 29 tỉnh ven biển với dân số 45 triệu người có tổng diện tích 139.640km2. Riêng 125 huyện ven biển với dân số 20 triệu người có diện tích 56.000km2. Các địa phương này có 1 triệu ha đất ngập mặn ven bờ trong đó 110.000ha là rừng ngập mặn.