Làng... không đất và Thiếu Nước Ngọt.

(VietNamNet) - Anh Bảy Trúc trầm ngâm xoay ly rượu đế, đọc tôi nghe câu thơ mà anh bảo là thấm thía nhất trong suốt hơn 14 năm lang thang sông nước của mình Ta trồng cây Hạnh để chơi/Ta trồng cây Đức để đời cho con. Chiếc ghe lớn chở hàng ào qua, ''căn nhà'' tròng trành, mâm cơm nghiêng ngả. Thằng bé Bình con anh và miếng cơm chưa vững, văng tung toé đầy sàn. Không ngần ngừ, nó cúi xuống bốc từng hạt cơm vãi cho vào miệng nhai ngon lành...

Ít có bữa cơm nào khiến tôi nhớ nhiều như bữa cơm chiều trên chiếc thuyền con tròng trành ở ấp Châu Thành B đến vậy.

Truyền kiếp ghe cào

Bảy Trúc tên đầy đủ là Nguyễn Văn Trúc, năm nay 36 tuổi, văn hoá lớp 7, một vợ, ba con, và có 14 năm ''lấy ghe làm nhà''. Anh Trúc bỏ bờ xuống sông sinh sống từ khi cưới vợ, 14 năm trước, và từ bấy đến nay vẫn ước ao được có cơ hội tìm được mảnh đất ''cắm dùi'', để con mình có được cái địa chỉ ''rõ ràng'' khi khai lý lịch. Thằng con lớn của anh năm nay đã học tới lớp 7, và từ trước đến nay chỉ biết ghi mỗi dòng địa chỉ của gia đình mình khi cần khai báo lý lịch: xóm ghe cào. Đứa con gái thứ 2 tên Hoà, đã học bắt đầu vào lớp 1. Còn thằng út đen thui như củ ấu, nghịch như quỷ, biết lội nước giỏi hơn học chữ năm nay cũng đã ghấp nghé cái tuổi vào tiểu học.

Cần Thơ có ba chợ nổi trên sông gồm Cái Răng, Phong Điền, Phụng Hiệp được biết đến như những đầu mối giao thương quan trọng của 12 tỉnh ĐBSCL, thì Phụng Hiệp là nổi tiếng nhất. Ngã Bảy Phụng Hiệp là cái tên mà mỗi du khách từng đến miền Tây Nam Bộ đều mong muốn một lần dừng chân để ngắm cái chợ giao thương đặc trưng của vùng miền Tây sông nước, nơi thuỷ lộ có thể về Sóc Trăng, Cà Mau, ra sông Cái Côn, lên Cần Thơ hoặc ngược dòng lên huyện Vị Thanh, tìm đường sang tỉnh bạn An Giang giáp giới. Giữa cái rộn ràng, ầm ào của chợ lớn trên sông, trong vòng quay ầm ĩ của những cuộc mua bán, ngã giá át cả tiếng máy thuyền, tiếng sóng, hàng chục căn ''nhà'' nằm nép mình lặng lẽ, cam chịu lênh đênh theo dòng nước nổi ven sông chỉ là những dấu vết nhỏ nhoi ít người để ý.

''Nhà'' mà tôi nhắc tới ở đây, gọi đúng hơn là 1 chiếc ghe (thuyền) rộng 2m và chưa đầy 10m chiều dài, là nơi tá túc của 5 nhân khẩu của một gia đình sinh sống bằng nghề ghe cào trên sông Phụng Hiệp (ấp Châu Thành B, thị trấn Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ). Gia đình anh Bảy Trúc, là một trong số 20 hộ gia đình đang mượn mặt nước sông Phụng Hiệp làm nơi tá túc, kiếm kế sinh nhai. 20 hộ gia đình, mỗi hộ có 2 ghe, một chiếc dùng để ở và một dùng để hành nghề cào lưới trên sông. 20 ''căn nhà'' lụp xụp, tồi tàn, thưng phên, hai đầu mũi đổ xi măng giữ thăng bằng, neo chặt ven bờ, nối đuôi nhau nằm xếp hàng dài ven bờ sông Phụng Hiệp. Cũng tạm gọi là một làng, nhưng là làng không.. đất.

Chị Bảy tên thời con gái là Mai, kém chồng 4 tuổi, sinh ra trên ghe, lớn lên trên ghe và lấy chồng, có con cũng vẫn cứ trên ghe. Mặc dù hộ khẩu gia đình nằm ở Hố Nai (Đồng Nai), nhưng từ bé đến nay, chị chỉ mới ''dám'' về quê có vài ba lần. Thứ nhất, không có tiền. Thứ hai, ở Hố Nai thì chị cũng làm gì có nhà mà về. Trước, gia đình chị có 8 anh chị em, theo ba má trôi nổi kiếm ăn theo dòng nước bạc khắp vùng miền Tây. Thuyền nhà chị đậu vùng nào, con gái, con trai lớn lên, bén duyên đều được cha mẹ dựng vợ, gả chồng tại vùng đất đó. Chị học đến lớp 3 thì nghỉ theo bố mẹ kiếm sống, và nay lại theo chồng neo ghe ở đoạn sông này, vẫn không thôi ao ước có một mái nhà tạm trên bờ, cho bõ những tháng ngày trôi dạt. 6 chị em gái trong gia đình Mai, có đến 4 người cùng cảnh sống như chị.

Câu chuyện đã đến thân tình, chị bộc bạch: ''Đời ông bà già ở ghe. Đời mình sinh ra, lớn lên, có chồng cũng ở ghe. Không biết đến lúc nhắm mắt, con cái mình có khá hơn chút nào không nữa''. Ngừng tay nhặt rau, chị ngoái nhìn ra phía đầu thuyền, nơi ông chồng chị đang cặm cụi vá lưới, mắt ngân ngấn lệ. Mắt chị đục ngầu, đục như dòng nước đang miệt mài chảy quanh năm ngay dưới thuyền nhà chị. Gia đình chồng chị cũng không khá giả hơn. 10 anh em lớn lên phiêu bạt tứ chiếng, nay còn mỗi người cha ở tận Sóc Trăng, nhưng là ở trên một chòi lá cất tạm trên sông, mỗi tháng chờ con cái mỗi đứa gửi về dăm ba chục nghìn mua gạo.

 

 

 

Anh Trúc bảo: ''Chú cứ đi về miệt Sóc Trăng, hỏi Trúc ''ghe cào'' ai cũng biết''. Tôi hiểu, anh muốn ''khoe'' cái thâm niên sông nước đời cào đáy sông kiếm miếng cơm manh áo của mình. Xót xa, thấy anh ngậm ngùi: ''Người ta chỉ biết Trúc ''ghe cào'', vì cứ muốn tìm tớ thì xuống sông... khắc thấy. Ngoài chính quyền ấp, bây giờ mới có chú hỏi anh họ gì đấy nghen''. Gia đình Bảy Trúc có 10 anh chị em, đến nay theo nhau xuống thuyền hết 4. Số còn lại tứ tán, mỗi người một phương. Cả 4 anh em nhà Trúc nối nhau tìm về vùng đất này neo lại, người nào cũng có một gia đình con con, một chiếc thuyền cào con con, rồi tựa vào nhau cùng nương vào sông mà sống. Trúc ''thâm niên'' nhất gia đình với 14 năm sông nước, cậu Chín Hồng mới có hơn một tháng ''xách'' gia đình xuống ghe.

Bấp bênh đời cào

Tiếng máy ghe nổ xình xịch, anh Trúc chống sào ngoắc tay gọi tôi. Chị Mai đội nón sùm sụp, trước khi qua thuyền cào còn dặn với mấy đứa nhỏ ở ''nhà'' không được kéo nhau xuống nước nghịch. Ghe qua ngã Bảy chừng 2 cây số, đưa lái cho vợ, anh Trúc quay qua tháo lưới cào, quẳng cái ùm xuống sông. Tiếng máy nặng ì ạch đẩy con thuyền lết đi theo dòng nước đục. Đồng hồ chỉ 12h trưa. Nắng đứng đỉnh đầu, khoang thuyền hừng hực mùi dầu, sàn thuyền nóng ran.

6 lần kéo, lần nào lưới cào cũng đầy củi mục, thân dừa, đá, mảnh sành và trăm nghìn thứ rác thải mà con người sử dụng rồi quẳng bừa xuống sông. Nếu có một đợt khảo sát mức độ ô nhiễm lòng sông của các dòng chảy miền Tây Nam Bộ, tôi nghĩ các nhà chính sách, khoa học... nên mời các ông chủ ghe cào như anh Trúc đi cùng. Tôi cam đoan họ có thể nói chính xác sông này có loại rác nào, nhiều hay ít, và vớt lên đầy đủ cho các nhà chức trách mục sở thị nghiên cứu.

Lẫn trong vỏ pepsi, vỏ dừa, bao nylon... là một mớ cá bống bằng ngón tay cái nằm lừ đừ, một ít tép trắng nhảy lách tách. Cứ chồng kéo lưới thì vợ lái, chồng lái thì vợ cặm cụi ngồi bới mẻ lưới vừa kéo lên nhặt nhạnh ít cá, tôm nằm lẫn với rác. Lần nào cũng chỉ được lưng âu cá. Hai vỏ bình thuốc sâu ghép vào nhau treo bên mạn thuyền dùng đựng cá tôm sau 4 tiếng đồng hồ đánh bắt cật lực vẫn nhẹ lềnh bềnh.

Một ngày làm việc của ghe cào bắt đầu lúc trời vừa tờ mờ sáng, khi chưa nhìn rõ mặt người. Quá buổi sáng, ghe ghé về chợ, bán chút cá kiếm được lấy tiền mua gạo buổi trưa. Khi trời vừa đứng bóng, lại nổ máy ghe ra sông kiếm bữa cơm chiều. Anh Trúc bảo, mỗi ngày chỉ cầu được ''lưng thùng thuốc sâu'' là ''đã'' lắm rồi. Nhưng cứ như buổi tôi theo ghe nhà anh chị ra sông, thì chỉ được chừng hơn âu cá, bán được chừng 30 nghìn đồng; ngày 2 buổi, nghĩa là mỗi ngày họ kiếm được chừng 60 nghìn đồng, trừ chi phí tiền dầu máy, lưới kéo phải vá lại hàng ngày vì lòng sông có đủ nghìn loại rác, thì vị chi là ''kiếm bữa nào ăn bữa đó''.

Một tỷ thứ phải chi tiêu mỗi ngày cho cuộc sống một gia đình 5 khẩu, 3 đứa con đang tuổi đến trường. Anh chị Trúc, cũng như anh Chín Hồng, anh Tám Vinh... đều than trời khi tôi nhắc đến ''mơ ước một mái nhà''. Giá đất 2-5 cây vàng/thước (đất ở miền Tây tính thước theo chiều ngang, chiều dài thì vài ba chục thước-NV), leo thang từng ngày, một mảnh đất cắm dùi vẫn mãi mãi là giấc mơ hằng đêm của họ. Để rồi mỗi buổi sáng tỉnh dậy, họ lại cặm cụi kéo lưới ra sông. Một ngày không làm, có nghĩa là ngày đó cả nhà ''nghỉ ăn'', nên dù nắng hay mưa cũng phải ra sông cố sức mà kiếm chút tiền đong gạo.

Chuyện nghe nơi thuyền trọ

Chị Mai bảo, đời ghe cào tha hương như kẻ ăn xin nhờ chỗ trọ. Ghe đậu trước nhà người ta, thích họ cho ở, không thích họ đuổi mình đi. Anh chị cưới nhau khi chưa có con cũng kéo ghe đi khắp Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ..., đến khi con cái đến tuổi đi học, mới dắt díu nhau về đây ''nhờ'' chỗ trọ. ''Được cái chính quyền ấp cũng thương người, cho đăng ký tạm trú tạm vắng, cho con cái mình vô trường đi học'', chị Mai cười ''khoe'' với tôi chút hạnh phúc ''lớn lao'' của đời mình: ''Vậy mà thằng lớn nhà chị, thằng Lâm ấy. Nó học đến lớp 7 rồi đó nghen''. ''Chỉ mỗi cái thỉnh thoảng có đoàn kiểm tra về, hay có hội hè, người ta lại bảo mình phải dời ghe đi chỗ khác. Vài ba tháng mới được quay về. Chỉ tội nghiệp mấy đứa nhỏ phải nghỉ học theo ba má dời nhà. Nên cũng chỉ biết quanh quẩn đâu đó gần trường cho con nó đi học thôi'', giọng chị trở nên nghèn nghẹn khi nhắc tới những thiệt thòi mà con cái mình phải chịu.

Ám ảnh nhất của nhưng gia đình neo đậu trên sông là chuyện bị Hà Bá cướp mất con. Ngay gia đình anh Bảy Trúc cũng từng mất một đứa con gái khi nó mới vài tháng tuổi. Chín năm trước, một ngày mưa mờ mịt. Chị Bảy vừa bước chân lên bờ bán cá cho khách. Đứa bé bò lổm ngổm ra trông mưa, rồi lộn cổ xuống sông lúc nào không biết. Chị Bảy như hoá điên hoá dại suốt mấy tháng trời. Rồi từ đó, chị bắt cả nhà nhịn ăn nhịn mặc, nhịn chi tiêu, vay mượn gom tiền mua bằng được chiếc ghe lớn hơn giá 7 trăm nghìn làm ''nhà ở'' để bảo vệ con khỏi tay thuỷ thần. Cũng từ đó, cứ sinh thêm đứa nào, cứng cáp một tý, cuối ngày lao động về là chị lại xách nó xuống sông tập làm quen với nước. Như thằng cu Bình, biết lội từ năm mới... 2 tuổi. Đến giờ, dù cả 3 đứa con chị đã lội nước như rái cá, nhưng khi chị ra sông cũng không dám đưa đứa nào theo cùng, bởi ''lỡ có xảy ra chuyện gì thì chắc chị tự tử theo chúng nó mất''.

Hết chuyện chuyện Hà Bá cướp con rồi chuyện nước nôi. Cái thứ nước đục ngầu phù sa và rác bẩn của dòng sông với hàng trăm thân phận nơi đây cũng có ý nghĩa tương đương với từ nước sạch. Nước dưới sông, dùng để vệ sinh buổi sáng, tắm giặt trong ngày, rửa ghe khi đi làm về... Rồi cũng chính thứ nước ấy được múc lên, đánh phèn, dùng làm nước ăn, nước uống. Thậm chí, tiếp khách cốc chén hơi bẩn, anh Bảy Trúc cầm ngay cái cốc nhoài người ra ngoài, chao qua chao lại vài cái rồi điềm nhiên rót nước mời tôi. Người ta cứ tự an ủi mình là nước trôi theo dòng, nhưng dọc dòng trôi ấy của nước có bao nhiêu con người đang bám vào sông để sinh sống, và có gấp chừng bấy nhiêu thứ rác thải của con người, rác thải công nghiệp, rác tàu bè, và thậm chí xưởng sửa máy móc, tàu thuyền, điểm bán xăng dầu... cũng đang bám dọc các triền sông.

Câu chuyện kéo từ chiều, đến tối, và đến nửa đêm. Tôi được gia đình anh Bảy Trúc đãi bữa cơm chiều, với đĩa cá bống, mấy búp rau và mớ tép luộc bắt dưới sông lên từ chiều. Quây quần cùng mâm có mấy ông chủ ghe neo bên cạnh. Bóng những người đàn ông lam lũ ngả nghiêng theo chiều gió hắt lên vách thuyền, rung rinh, cam chịu. Can rượu vơi dần, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hình như lâu lắm rồi, họ mới gặp một người khách lạ như tôi, chịu ngồi nghe họ kể. Họ kể nhiều, nhiều những khó khăn, những cam chịu, cả những thiệt thòi và cả những ước mơ.

...Trời lại chuyển mưa mù mịt phủ mờ một dãy thuyền trọ nằm gối dài nép mình nương tựa vào nhau. Ly rượu nồng bỗng trở nên cay xé, hạt cơm chát đắng cuống họng, cái đầu cá tanh ngòm... Lại một chiếc ghe chở cát đi qua, sóng quật con thuyền tôi ngồi tròng trành tưởng chừng sắp lật. Bát nước mắm vơi sánh hẳn ra ngoài, mâm cơm xô nghiêng. Mấy khuôn mặt đàn ông ngấm chút men đồng lộ vẻ thê lương, mắt đăm đăm nhìn tưởng đến xuyên qua vách thuyền, ngó lên những ánh đèn le lói trên bờ. Thằng bé con vẫn lui cui nhặt những hạt cơm vãi xuống sàn ngon lành cho vào miệng. Tôi nhớ, hình như lúc chiều, chị Bảy có bảo tôi sẽ cố cho mấy đứa con mình học đến đại học, vì đời chị khổ đã nhiều rồi. Ừ, mong sao chị sẽ cố gắng biến mơ ước của chị thành hiện thực, bởi cuộc sống đâu đến nỗi phũ phàng đối với những người biết ước mơ. Tôi nghĩ vậy!

Trường Giang

Thiếu nước sản xuất không phải do hạn
Tiến sĩ Bùi Đạt Trâm, GĐ Trung tâm Dự báo KT-TV An Giang:


Đến thời điểm hiện nay, tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp ở nhiều tỉnh ĐBSCL bắt đầu lan rộng. Nhiều ý kiến cho rằng, tình trạng kiệt nước hiện nay là do hạn xuất hiện sớm và duy trì ở mức độ cao. Riêng Tiến sĩ  Bùi Đạt Trâm, Giám đốc Trung tâm dự báo khí tượng - thuỷ văn An Giang trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Lao Động bằng những nhận định tường tận:

Hạn thường là do các yếu tố khí tượng gây ra, như nắng nóng kéo dài, không mưa. Kiệt là nói đến dòng chảy và mực nước của hệ thống sông, kênh xuống thấp dần, gây khó khăn cho việc lấy nước sản xuất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt. Theo đó, hạn ở ĐBSCL diễn ra theo quy luật: Bắt đầu từ tháng 12 của năm trước và kéo dài đến tháng 4 năm sau. Bởi đây là thời điểm không có mưa, hoặc nếu có thì cũng rất thấp. Trong khí đó kiệt thì hoàn toàn ngược lại. Nó biến động lớn hàng năm theo trữ lượng ngầm của năm trước chảy vào sông ngòi trong mùa khô năm sau. Nghĩa là nếu năm trước có lớn thì lượng trữ ngầm sẽ lớn, mùa hạn năm sau không bị kiệt và ngược lại.

Trong hơn 40 năm qua, kể từ 1960 đến nay, ĐBSCL có hai năm kiệt. Đối với vụ kiệt vào năm 1978 là do hai năm liên tiếp trước đó, đỉnh trên sông Tiền tại Tân Châu chỉ đạt mức 3m64 và 3m42. Riêng vụ kiệt năm 1999 là do năm 1998 ở mức thấp nhất trong vòng 100 năm qua, đỉnh lũ tại Tân Châu là 2m81. Trong khí đó, từ năm 2000 đến 2003, đỉnh lũ tại Tân Châu luôn ở mức cao, từ 4m82 đến 5m06. Mặt khác, so sánh mực nước trong tuần đầu tháng 2 giữa năm 2004 và hai năm kiệt cho thấy cả trên hai cấp độ cao nhất và thấp nhất của năm 2004 đều cao hơn. Do vậy về chuyên môn, có thể nhận định năm 2004 không phải là năm kiệt.

Tuy nhiên, trên thực tế, ĐBSCL đang bị kiệt, TS lý giải vấn đề này như thế nào?

Như đã trình bày ở phần trên, tại thời điểm đầu tuần tháng 2, nước đỉnh triều tại Tân Châu là 121cm, trong khí đó đặc điểm thuỷ triều ở ĐBSCL là bán nhật triều, nghĩa là mỗi ngày có hai lần triều lên, mỗi lần kéo dài vài giờ đồng hồ, tức đủ thời gian để lấy nước tưới ruộng. Còn hiện nay nhiều địa phương bị kiệt là do hệ thống kênh, mương từ sông Tiền, sông Hậu đã bị bồi lắng nhiều mà không được nạo vét đúng định kỳ.

Như chúng ta đã biết, bình quân mỗi năm, mà chủ yếu là mùa lũ, sông Mê-kông đưa vào sông Tiền, sông Hậu khoảng 500 tỉ m3 nước, với khoảng 100 triệu tấn phù sa. Do đó, lượng phù sa bồi lắng lên lòng hệ thống dẫn nước từ sông Tiền, sông Hậu vào nội đồng hàng năm rất lớn. Trong khi đó, do 3 năm đầu thập niên 2000 lũ ĐBSCL ở mức cao nên lượng trữ ngầm cho mùa hạn các năm tiếp theo cũng rất lớn, làm cho nhiều địa phương ít chú ý đến công tác nạo vét hệ thống thủy lợi nội đồng. Đến năm 2003, khi mực nước lũ chỉ ở mức hơi cao, nghĩa là lượng trữ ngầm có ít đi so với các năm trước và nhất là so với tiêu chuẩn kỹ thuật mang tính bắt buộc về độ sâu của hệ thống thuỷ lợi đầu nguồn sau nhiều năm bị bồi lắng, nên thiếu nước tưới là điều dễ hiểu. Trong khi đó, cho dù tình hình thời tiết trong những ngày sắp tới có bớt nắng nóng đi, nhưng theo quy luật chung, lượng mưa trên lưu vực sông Mê-kông là không đáng kể nên lượng nước từ thượng nguồn đổ về hạ lưu là không có, vì vậy vấn đề kiệt sẽ càng trầm trọng mà đỉnh điểm là vào giữa tháng 4 đến tháng 5.2004. Đây là thời điểm sản xuất vụ hè thu nên sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống, sản xuất nếu chúng ta không có sự can thiệp.
Xin cám ơn Tiến sĩ
Lâm Điền thực hiện

 

Cạn kiệt sông Mê Kông chủ yếu do các đập thuỷ điện của Trung Quốc.

Khô hạn và nắng nóng có thể kéo đến tháng Năm cùng 20 vạn ha lúa thiếu nước.

Phải quản chặt nguồn nước ngầm và lợi dụng đỉnh triều để lấy và tích nước.

 

Do không có trận mưa trái mùa nào, từ đầu tháng 12 năm ngoái đến nay, lượng mưa ở Nam Bộ thiếu hụt nhiều so với mức trung bình thời kỳ này nhiều năm. Các báo cáo tại hội nghị phòng chống hạn cuối vụ Đông Xuân và đầu vụ Hè của Bộ NN&PTNT vừa tổ chức ở Bà Rịa-Vũng Tàu cho thấy một số tỉnh suốt hai tháng qua hầu như không có mưa như Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Tiền Giang, Cà Mau... Nắng nhiều, nhiệt độ cao (30-35 độ C) khiến lượng nước bốc hơi càng lớn. Mực nước sông ngòi, kênh rạch, hồ chứa, vì thế, cạn kiệt nhanh. Các hồ chứa dung tích lớn như Dầu Tiếng, An Khương, Suối Giai, Thác Mơ, Trị An, đều thiếu hụt 20-30% so với mọi năm. Mực nước sông Đồng Nai, sông Tiền, sông hậu, Vàm Cỏ Đông thấp hơn trung bình nhièu năm 30-40cm, khiến nước mặn xâm nhập sâu nội đồng 30-40km sớm hơn 1 tháng so với mọi năm.

Tại thượng nguồn sông Mê Kông, theo thông báo của Tổ chức Mạng lưới sông Đông Nam á, mực nước ở Chiềng Rai (Thái Lan) trong tháng 2 chỉ còn 98cm, thấp hơn bình thường 60cm và là mức thấp nhất kể từ năm 2000 đến nay. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng cạn kiệt là do Trung Quốc xây dựng một số đập thuỷ điện thượng nguồn thuộc tỉnh Vân Nam như Môn Loan (xây dựng năm 1996), Thiếu Sơn (năm 2003) và Tiểu Loan (dự kiến khánh thành năm 2012). Theo đánh giá của các chuyên gia nông nghiệp, nếu không có biện pháp cấp bách, Nam Bộ sẽ có 20 vạn ha lúa Đông Xuân và Hè Thu bị hạn nặng. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia nhận định, từ giờ đến tháng 5, Nam Bộ vẫn tiếp tục ít mưa, nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36-39 độ C và mực nước các sông thấp hơn cùng kỳ năm ngoái 30-50cm.

Trước tình hình trên, các đại biểu tham dự hội nghị phòng chống hạn nhất trí một số biện pháp khắc phục như nhanh chóng thành lập ban chỉ đạo phòng chống hạn các cấp, tập trung nạo vét kênh mương, củng cố bờ bao ngăn mặn, theo dõi chặt diễn biến thời tiết, tình hình xâm mặn, thực hiện nghiêm chỉnh bảo vệ, tiết kiệm nước, quản lý chặt nguồn nước ngầm, lợi dụng đỉnh triều để lấy và trữ nước, và tiếp tục chuyển đổi mạnh cơ cấu mùa vụ ở những vùng không đủ nước...