|
Làng... không đất và Thiếu Nước Ngọt. |
||
|
(VietNamNet) - Anh Bảy Trúc
trầm ngâm xoay ly rượu đế, đọc tôi
nghe câu thơ mà anh bảo là thấm thía nhất trong suốt
hơn 14 năm lang thang sông nước của mình Ta trồng
cây Hạnh để chơi/Ta trồng cây Đức
để đời cho con. Chiếc ghe lớn chở
hàng ào qua, ''căn nhà'' tròng trành, mâm cơm nghiêng ngả. Thằng
bé Bình con anh và miếng cơm chưa vững, văng tung
toé đầy sàn. Không ngần ngừ, nó cúi xuống bốc
từng hạt cơm vãi cho vào miệng nhai ngon lành... Ít có bữa
cơm nào khiến tôi nhớ nhiều như bữa
cơm chiều trên chiếc thuyền con tròng trành ở ấp
Châu Thành B đến vậy. Truyền kiếp
ghe cào Bảy Trúc tên
đầy đủ là Nguyễn Văn Trúc, năm nay 36
tuổi, văn hoá lớp 7, một vợ, ba con, và có 14
năm ''lấy ghe làm nhà''. Anh Trúc bỏ bờ xuống
sông sinh sống từ khi cưới vợ, 14 năm
trước, và từ bấy đến nay vẫn ước
ao được có cơ hội tìm được mảnh
đất ''cắm dùi'', để con mình có được
cái địa chỉ ''rõ ràng'' khi khai lý lịch. Thằng
con lớn của anh năm nay đã học tới lớp
7, và từ trước đến nay chỉ biết ghi mỗi
dòng địa chỉ của gia đình mình khi cần khai
báo lý lịch: xóm ghe cào. Đứa con gái thứ 2 tên Hoà,
đã học bắt đầu vào lớp 1. Còn thằng
út đen thui như củ ấu, nghịch như quỷ,
biết lội nước giỏi hơn học chữ
năm nay cũng đã ghấp nghé cái tuổi vào tiểu
học. Cần Thơ có
ba chợ nổi trên sông gồm Cái Răng, Phong Điền,
Phụng Hiệp được biết đến
như những đầu mối giao thương quan trọng
của 12 tỉnh ĐBSCL, thì Phụng Hiệp là nổi
tiếng nhất. Ngã Bảy Phụng Hiệp là cái tên mà mỗi
du khách từng đến miền Tây Nam Bộ đều
mong muốn một lần dừng chân để ngắm
cái chợ giao thương đặc trưng của vùng
miền Tây sông nước, nơi thuỷ lộ có thể
về Sóc Trăng, Cà Mau, ra sông Cái Côn, lên Cần Thơ hoặc
ngược dòng lên huyện Vị Thanh, tìm đường
sang tỉnh bạn An Giang giáp giới. Giữa cái rộn
ràng, ầm ào của chợ lớn trên sông, trong vòng quay ầm
ĩ của những cuộc mua bán, ngã giá át cả tiếng
máy thuyền, tiếng sóng, hàng chục căn ''nhà'' nằm
nép mình lặng lẽ, cam chịu lênh đênh theo dòng nước
nổi ven sông chỉ là những dấu vết nhỏ
nhoi ít người để ý. ''Nhà'' mà tôi nhắc
tới ở đây, gọi đúng hơn là 1 chiếc ghe
(thuyền) rộng 2m và chưa đầy 10m chiều dài,
là nơi tá túc của 5 nhân khẩu của một gia
đình sinh sống bằng nghề ghe cào trên sông Phụng
Hiệp (ấp Châu Thành B, thị trấn Phụng Hiệp,
tỉnh Cần Thơ). Gia đình anh Bảy Trúc, là một
trong số 20 hộ gia đình đang mượn mặt
nước sông Phụng Hiệp làm nơi tá túc, kiếm kế
sinh nhai. 20 hộ gia đình, mỗi hộ có 2 ghe, một
chiếc dùng để ở và một dùng để hành
nghề cào lưới trên sông. 20 ''căn nhà'' lụp xụp,
tồi tàn, thưng phên, hai đầu mũi đổ xi
măng giữ thăng bằng, neo chặt ven bờ, nối
đuôi nhau nằm xếp hàng dài ven bờ sông Phụng Hiệp.
Cũng tạm gọi là một làng, nhưng là làng không.. đất. Chị Bảy
tên thời con gái là Mai, kém chồng 4 tuổi, sinh ra trên
ghe, lớn lên trên ghe và lấy chồng, có con cũng vẫn
cứ trên ghe. Mặc dù hộ khẩu gia đình nằm ở
Hố Nai (Đồng Nai), nhưng từ bé đến
nay, chị chỉ mới ''dám'' về quê có vài ba lần.
Thứ nhất, không có tiền. Thứ hai, ở Hố
Nai thì chị cũng làm gì có nhà mà về. Trước, gia
đình chị có 8 anh chị em, theo ba má trôi nổi kiếm
ăn theo dòng nước bạc khắp
vùng miền Tây. Thuyền nhà chị đậu vùng nào, con
gái, con trai lớn lên, bén duyên đều được
cha mẹ dựng vợ, gả chồng tại vùng đất
đó. Chị học đến lớp 3 thì nghỉ theo bố
mẹ kiếm sống, và nay lại theo chồng neo ghe ở
đoạn sông này, vẫn không thôi ao ước có một
mái nhà tạm trên bờ, cho bõ những tháng ngày trôi dạt.
6 chị em gái trong gia đình Mai, có đến 4 người
cùng cảnh sống như chị. Câu chuyện
đã đến thân tình, chị bộc bạch: ''Đời
ông bà già ở ghe. Đời mình sinh ra, lớn lên, có chồng
cũng ở ghe. Không biết đến lúc nhắm mắt,
con cái mình có khá hơn chút nào không nữa''. Ngừng tay nhặt
rau, chị ngoái nhìn ra phía đầu thuyền, nơi ông
chồng chị đang cặm cụi vá lưới, mắt
ngân ngấn lệ. Mắt chị đục ngầu,
đục như dòng nước đang miệt mài chảy
quanh năm ngay dưới thuyền nhà chị. Gia đình
chồng chị cũng không khá giả hơn. 10 anh em lớn
lên phiêu bạt tứ chiếng, nay còn mỗi người
cha ở tận Sóc Trăng, nhưng là ở trên một
chòi lá cất tạm trên sông, mỗi tháng chờ con cái mỗi
đứa gửi về dăm ba chục nghìn mua gạo.
Anh Trúc bảo:
''Chú cứ đi về miệt Sóc Trăng, hỏi Trúc
''ghe cào'' ai cũng biết''. Tôi hiểu, anh muốn
''khoe'' cái thâm niên sông nước đời cào đáy sông
kiếm miếng cơm manh áo của mình. Xót xa, thấy anh
ngậm ngùi: ''Người ta chỉ biết Trúc ''ghe cào'',
vì cứ muốn tìm tớ thì xuống sông... khắc thấy.
Ngoài chính quyền ấp, bây giờ mới có chú hỏi
anh họ gì đấy nghen''. Gia đình Bảy Trúc có 10
anh chị em, đến nay theo nhau xuống thuyền hết
4. Số còn lại tứ tán, mỗi người một
phương. Cả 4 anh em nhà Trúc nối nhau tìm về vùng
đất này neo lại, người nào cũng có một
gia đình con con, một chiếc thuyền cào con con, rồi
tựa vào nhau cùng nương vào sông mà sống. Trúc ''thâm
niên'' nhất gia đình với 14 năm sông nước, cậu
Chín Hồng mới có hơn một tháng ''xách'' gia đình
xuống ghe. Bấp bênh đời
cào Tiếng máy ghe nổ
xình xịch, anh Trúc chống sào ngoắc tay gọi tôi. Chị
Mai đội nón sùm sụp, trước khi qua thuyền
cào còn dặn với mấy đứa nhỏ ở
''nhà'' không được kéo nhau xuống nước nghịch.
Ghe qua ngã Bảy chừng 2 cây số, đưa lái cho vợ,
anh Trúc quay qua tháo lưới cào, quẳng cái ùm xuống
sông. Tiếng máy nặng ì ạch đẩy con thuyền
lết đi theo dòng nước đục. Đồng hồ
chỉ 12h trưa. Nắng đứng đỉnh đầu,
khoang thuyền hừng hực mùi dầu, sàn thuyền nóng
ran. 6 lần kéo, lần
nào lưới cào cũng đầy củi mục, thân dừa,
đá, mảnh sành và trăm nghìn thứ rác thải mà con
người sử dụng rồi quẳng bừa xuống
sông. Nếu có một đợt khảo sát mức độ
ô nhiễm lòng sông của các dòng chảy miền Tây Nam Bộ,
tôi nghĩ các nhà chính sách, khoa học... nên mời các ông chủ
ghe cào như anh Trúc đi cùng. Tôi cam đoan họ có thể
nói chính xác sông này có loại rác nào, nhiều hay ít, và vớt
lên đầy đủ cho các nhà chức trách mục sở
thị nghiên cứu. Lẫn trong vỏ
pepsi, vỏ dừa, bao nylon... là một mớ cá bống bằng
ngón tay cái nằm lừ đừ, một ít tép trắng
nhảy lách tách. Cứ chồng kéo lưới thì vợ
lái, chồng lái thì vợ cặm cụi ngồi bới mẻ
lưới vừa kéo lên nhặt nhạnh ít cá, tôm nằm
lẫn với rác. Lần nào cũng chỉ được
lưng âu cá. Hai vỏ bình thuốc sâu ghép vào nhau treo bên mạn
thuyền dùng đựng cá tôm sau 4 tiếng đồng hồ
đánh bắt cật lực vẫn nhẹ lềnh bềnh. Một ngày làm việc
của ghe cào bắt đầu lúc trời vừa tờ
mờ sáng, khi chưa nhìn rõ mặt người. Quá buổi
sáng, ghe ghé về chợ, bán chút cá kiếm được
lấy tiền mua gạo buổi trưa. Khi trời vừa
đứng bóng, lại nổ máy ghe ra sông kiếm bữa
cơm chiều. Anh Trúc bảo, mỗi ngày chỉ cầu
được ''lưng thùng thuốc sâu'' là ''đã'' lắm
rồi. Nhưng cứ như buổi tôi theo ghe nhà anh chị
ra sông, thì chỉ được chừng hơn âu cá, bán
được chừng 30 nghìn đồng; ngày 2 buổi,
nghĩa là mỗi ngày họ kiếm được chừng
60 nghìn đồng, trừ chi phí tiền dầu máy, lưới
kéo phải vá lại hàng ngày vì lòng sông có đủ nghìn loại
rác, thì vị chi là ''kiếm bữa nào ăn bữa
đó''. Một tỷ thứ
phải chi tiêu mỗi ngày cho cuộc sống một gia
đình 5 khẩu, 3 đứa con đang tuổi đến
trường. Anh chị Trúc, cũng như anh Chín Hồng,
anh Tám Vinh... đều than trời khi tôi nhắc đến
''mơ ước một mái nhà''. Giá đất 2-5 cây
vàng/thước (đất ở miền Tây tính thước
theo chiều ngang, chiều dài thì vài ba chục thước-NV),
leo thang từng ngày, một mảnh đất cắm dùi
vẫn mãi mãi là giấc mơ hằng đêm của họ.
Để rồi mỗi buổi sáng tỉnh dậy, họ
lại cặm cụi kéo lưới ra sông. Một ngày
không làm, có nghĩa là ngày đó cả nhà ''nghỉ ăn'',
nên dù nắng hay mưa cũng phải ra sông cố sức
mà kiếm chút tiền đong gạo. Chuyện nghe
nơi thuyền trọ Chị Mai bảo,
đời ghe cào tha hương như kẻ ăn xin nhờ chỗ trọ. Ghe đậu
trước nhà người ta, thích họ cho ở, không
thích họ đuổi mình đi. Anh chị cưới
nhau khi chưa có con cũng kéo ghe đi khắp Sóc
Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ..., đến khi con cái
đến tuổi đi học, mới dắt díu nhau về
đây ''nhờ'' chỗ trọ. ''Được cái chính
quyền ấp cũng thương người, cho
đăng ký tạm trú tạm vắng, cho con cái mình vô
trường đi học'', chị Mai cười ''khoe''
với tôi chút hạnh phúc ''lớn lao'' của đời
mình: ''Vậy mà thằng lớn nhà chị, thằng Lâm ấy.
Nó học đến lớp 7 rồi đó nghen''. ''Chỉ
mỗi cái thỉnh thoảng có đoàn kiểm tra về,
hay có hội hè, người ta lại bảo mình phải
dời ghe đi chỗ khác. Vài ba tháng mới được
quay về. Chỉ tội nghiệp mấy đứa nhỏ
phải nghỉ học theo ba má dời nhà. Nên cũng chỉ
biết quanh quẩn đâu đó gần trường cho
con nó đi học thôi'', giọng chị trở nên nghèn
nghẹn khi nhắc tới những thiệt thòi mà con cái
mình phải chịu. Ám ảnh nhất
của nhưng gia đình neo đậu trên sông là chuyện
bị Hà Bá cướp mất con. Ngay gia đình anh Bảy
Trúc cũng từng mất một đứa con gái khi nó mới
vài tháng tuổi. Chín năm trước, một ngày mưa
mờ mịt. Chị Bảy vừa bước chân lên bờ
bán cá cho khách. Đứa bé bò lổm ngổm ra trông
mưa, rồi lộn cổ xuống sông lúc nào không biết.
Chị Bảy như hoá điên hoá dại suốt mấy
tháng trời. Rồi từ đó, chị bắt cả
nhà nhịn ăn nhịn mặc, nhịn
chi tiêu, vay mượn gom tiền mua bằng được
chiếc ghe lớn hơn giá 7 trăm nghìn làm ''nhà ở''
để bảo vệ con khỏi tay thuỷ thần. Cũng
từ đó, cứ sinh thêm đứa nào, cứng cáp một
tý, cuối ngày lao động về là chị lại xách
nó xuống sông tập làm quen với nước. Như thằng
cu Bình, biết lội từ năm mới... 2 tuổi.
Đến giờ, dù cả 3 đứa con chị đã
lội nước như rái cá, nhưng khi chị ra sông cũng
không dám đưa đứa nào theo cùng, bởi ''lỡ có
xảy ra chuyện gì thì chắc chị tự tử theo
chúng nó mất''. Hết chuyện
chuyện Hà Bá cướp con rồi chuyện nước
nôi. Cái thứ nước đục ngầu phù sa và rác bẩn
của dòng sông với hàng trăm thân phận nơi
đây cũng có ý nghĩa tương đương với
từ nước sạch. Nước dưới sông,
dùng để vệ sinh buổi sáng, tắm giặt trong
ngày, rửa ghe khi đi làm về... Rồi cũng chính thứ
nước ấy được múc lên, đánh phèn, dùng
làm nước ăn, nước uống. Thậm chí, tiếp
khách cốc chén hơi bẩn, anh Bảy Trúc cầm ngay
cái cốc nhoài người ra ngoài, chao qua chao lại vài
cái rồi điềm nhiên rót nước mời tôi.
Người ta cứ tự an ủi mình là nước
trôi theo dòng, nhưng dọc dòng trôi ấy của nước
có bao nhiêu con người đang bám vào sông để sinh sống,
và có gấp chừng bấy nhiêu thứ rác thải của
con người, rác thải công nghiệp, rác tàu bè, và thậm
chí xưởng sửa máy móc, tàu thuyền, điểm bán
xăng dầu... cũng đang bám dọc các triền
sông. Câu chuyện kéo từ
chiều, đến tối, và đến nửa đêm.
Tôi được gia đình anh Bảy Trúc đãi bữa
cơm chiều, với đĩa cá bống, mấy búp
rau và mớ tép luộc bắt dưới sông lên từ
chiều. Quây quần cùng mâm có mấy ông chủ ghe neo bên
cạnh. Bóng những người đàn ông lam lũ ngả
nghiêng theo chiều gió hắt lên vách thuyền, rung rinh, cam
chịu. Can rượu vơi dần, mỗi người
theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hình như lâu lắm
rồi, họ mới gặp một người khách lạ
như tôi, chịu ngồi nghe họ kể. Họ kể
nhiều, nhiều những khó khăn, những cam chịu,
cả những thiệt thòi và cả những ước
mơ. ...Trời lại
chuyển mưa mù mịt phủ mờ một dãy thuyền
trọ nằm gối dài nép mình nương tựa vào
nhau. Ly rượu nồng bỗng trở nên cay xé, hạt
cơm chát đắng cuống họng, cái đầu cá
tanh ngòm... Lại một chiếc ghe chở cát đi qua,
sóng quật con thuyền tôi ngồi tròng trành tưởng
chừng sắp lật. Bát nước mắm vơi sánh
hẳn ra ngoài, mâm cơm xô nghiêng. Mấy khuôn mặt
đàn ông ngấm chút men đồng lộ vẻ thê
lương, mắt đăm đăm nhìn tưởng
đến xuyên qua vách thuyền, ngó lên những ánh đèn
le lói trên bờ. Thằng bé con vẫn lui cui nhặt những
hạt cơm vãi xuống sàn ngon lành cho vào miệng. Tôi nhớ,
hình như lúc chiều, chị Bảy có bảo tôi sẽ
cố cho mấy đứa con mình học đến
đại học, vì đời chị khổ đã nhiều
rồi. Ừ, mong sao chị sẽ cố gắng biến
mơ ước của chị thành hiện thực, bởi
cuộc sống đâu đến nỗi phũ phàng đối
với những người biết ước mơ. Tôi
nghĩ vậy! Trường
Giang |
Thiếu nước sản xuất không phải
do hạn
Tiến sĩ Bùi
Đạt Trâm, GĐ Trung tâm Dự báo KT-TV An
Giang:
Đến thời điểm hiện nay, tình trạng
thiếu nước phục vụ sản xuất nông
nghiệp ở nhiều tỉnh ĐBSCL bắt đầu
lan rộng. Nhiều ý kiến cho
rằng, tình trạng kiệt nước hiện nay là do
hạn xuất hiện sớm và duy trì ở mức
độ cao. Riêng Tiến sĩ Bùi
Đạt Trâm, Giám đốc Trung tâm dự báo khí
tượng - thuỷ văn An Giang trả lời phỏng
vấn phóng viên Báo Lao Động bằng những
nhận định tường tận:
Hạn thường là do các yếu tố khí tượng
gây ra, như nắng nóng kéo dài, không mưa. Kiệt
là nói đến dòng chảy và mực nước của
hệ thống sông, kênh xuống thấp dần, gây khó khăn
cho việc lấy nước sản xuất nông nghiệp
và phục vụ sinh hoạt. Theo đó, hạn ở
ĐBSCL diễn ra theo quy luật:
Bắt đầu từ tháng 12 của năm trước
và kéo dài đến tháng 4 năm sau. Bởi
đây là thời điểm không có mưa, hoặc nếu
có thì cũng rất thấp. Trong khí
đó kiệt thì hoàn toàn ngược lại. Nó
biến động lớn hàng năm theo
trữ lượng ngầm của năm trước
chảy vào sông ngòi trong mùa khô năm sau. Nghĩa là nếu
năm trước có lũ lớn thì
lượng trữ ngầm sẽ lớn, mùa hạn
năm sau không bị kiệt và ngược lại.
Trong hơn 40 năm qua, kể từ 1960
đến nay, ĐBSCL có hai năm kiệt.
Đối với vụ kiệt vào năm 1978 là do hai
năm liên tiếp trước đó, đỉnh lũ trên sông Tiền tại Tân Châu chỉ
đạt mức 3m64 và 3m42. Riêng vụ kiệt năm 1999
là do lũ năm 1998 ở mức
thấp nhất trong vòng 100 năm qua, đỉnh lũ
tại Tân Châu là 2m81. Trong khí đó, từ năm 2000
đến 2003, đỉnh lũ tại Tân Châu luôn ở
mức cao, từ 4m82 đến 5m06. Mặt khác, so sánh
mực nước trong tuần đầu tháng 2 giữa
năm 2004 và hai năm kiệt cho thấy cả trên hai
cấp độ cao nhất và thấp nhất của
năm 2004 đều cao hơn. Do vậy về chuyên môn, có
thể nhận định năm 2004 không phải là năm
kiệt.
Tuy nhiên, trên thực tế,
ĐBSCL đang bị kiệt, TS lý giải vấn
đề này như thế nào?
Như đã trình bày ở phần trên, tại thời
điểm đầu tuần tháng 2, nước
đỉnh triều tại Tân Châu là 121cm, trong khí đó
đặc điểm thuỷ triều ở ĐBSCL là bán
nhật triều, nghĩa là mỗi ngày có hai lần
triều lên, mỗi lần kéo dài vài giờ đồng
hồ, tức đủ thời gian để lấy
nước tưới ruộng. Còn hiện nay nhiều
địa phương bị kiệt là do hệ thống
kênh, mương từ sông Tiền, sông Hậu đã bị
bồi lắng nhiều mà không được nạo vét
đúng định kỳ.
Như chúng ta đã biết, bình quân mỗi năm, mà
chủ yếu là mùa lũ, sông Mê-kông đưa vào sông
Tiền, sông Hậu khoảng 500 tỉ m3 nước,
với khoảng 100 triệu tấn phù sa. Do đó,
lượng phù sa bồi lắng lên lòng
hệ thống dẫn nước từ sông Tiền, sông
Hậu vào nội đồng hàng năm rất lớn.
Trong khi đó, do 3 năm đầu thập niên 2000 lũ
ĐBSCL ở mức cao nên lượng trữ ngầm cho
mùa hạn các năm tiếp theo cũng rất lớn, làm
cho nhiều địa phương ít chú ý đến công
tác nạo vét hệ thống thủy lợi nội
đồng. Đến năm 2003, khi mực nước
lũ chỉ ở mức hơi cao, nghĩa là
lượng trữ ngầm có ít đi so với các năm
trước và nhất là so với tiêu chuẩn kỹ thuật
mang tính bắt buộc về độ sâu của hệ
thống thuỷ lợi đầu nguồn sau nhiều
năm bị bồi lắng, nên thiếu nước
tưới là điều dễ hiểu. Trong khi đó, cho
dù tình hình thời tiết trong những ngày sắp tới
có bớt nắng nóng đi, nhưng theo quy luật chung,
lượng mưa trên lưu vực sông
Mê-kông là không đáng kể nên lượng nước
từ thượng nguồn đổ về hạ lưu
là không có, vì vậy vấn đề kiệt sẽ càng
trầm trọng mà đỉnh điểm là vào giữa
tháng 4 đến tháng 5.2004. Đây là thời điểm
sản xuất vụ hè thu nên sẽ có
ảnh hưởng tiêu cực đến đời
sống, sản xuất nếu chúng ta không có sự can
thiệp.
Xin cám ơn Tiến sĩ
Lâm Điền thực hiện
Cạn kiệt sông Mê Kông
chủ yếu do các đập thuỷ điện của
Trung Quốc.
Khô hạn và nắng nóng có
thể kéo đến tháng Năm cùng 20 vạn ha lúa
thiếu nước.
Phải quản chặt
nguồn nước ngầm và lợi dụng đỉnh
triều để lấy và tích nước.
Do không có trận mưa trái
mùa nào, từ đầu tháng 12 năm ngoái đến nay,
lượng mưa ở Nam Bộ thiếu hụt
nhiều so với mức trung bình thời kỳ này nhiều
năm. Các báo cáo tại hội nghị phòng chống
hạn cuối vụ Đông Xuân và đầu vụ Hè
của Bộ NN&PTNT vừa tổ chức ở Bà
Rịa-Vũng Tàu cho thấy một số tỉnh suốt
hai tháng qua hầu như không có mưa như Đồng
Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Tiền
Giang, Cà Mau... Nắng nhiều, nhiệt
độ cao (30-35 độ C) khiến lượng nước
bốc hơi càng lớn. Mực
nước sông ngòi, kênh rạch, hồ chứa, vì thế,
cạn kiệt nhanh. Các hồ chứa dung tích lớn
như Dầu Tiếng, An Khương, Suối Giai, Thác
Mơ, Trị An, đều thiếu hụt 20-30% so với
mọi năm. Mực nước sông Đồng Nai, sông
Tiền, sông hậu, Vàm Cỏ Đông thấp hơn trung
bình nhièu năm 30-40cm, khiến nước mặn xâm
nhập sâu nội đồng 30-40km sớm hơn 1 tháng so
với mọi năm.
Tại thượng
nguồn sông Mê Kông, theo thông báo của Tổ chức
Mạng lưới sông Đông Nam á, mực nước
ở Chiềng Rai (Thái Lan) trong tháng 2 chỉ còn 98cm,
thấp hơn bình thường 60cm và là mức thấp
nhất kể từ năm 2000 đến nay. Nguyên nhân
chủ yếu của tình trạng cạn kiệt là do Trung
Quốc xây dựng một số đập thuỷ
điện thượng nguồn thuộc tỉnh Vân Nam
như Môn Loan (xây dựng năm 1996), Thiếu Sơn
(năm 2003) và Tiểu Loan (dự kiến khánh thành năm
2012). Theo đánh giá của các chuyên gia nông
nghiệp, nếu không có biện pháp cấp bách, Nam Bộ
sẽ có 20 vạn ha lúa Đông Xuân và Hè Thu bị hạn
nặng. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ
văn Quốc gia nhận định, từ giờ
đến tháng 5, Nam Bộ vẫn tiếp tục ít
mưa, nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao
nhất phổ biến 36-39 độ C và mực
nước các sông thấp hơn cùng kỳ năm ngoái
30-50cm.
Trước tình hình trên, các
đại biểu tham dự hội nghị phòng chống
hạn nhất trí một số biện pháp khắc
phục như nhanh chóng thành lập ban chỉ đạo
phòng chống hạn các cấp, tập trung nạo vét kênh
mương, củng cố bờ bao ngăn mặn, theo dõi
chặt diễn biến thời tiết, tình hình xâm
mặn, thực hiện nghiêm chỉnh bảo vệ,
tiết kiệm nước, quản lý chặt nguồn
nước ngầm, lợi dụng đỉnh triều
để lấy và trữ nước, và tiếp tục
chuyển đổi mạnh cơ cấu mùa vụ ở
những vùng không đủ nước...