Mối đe dọa từ nước mặn
Lê Như Giang

Tại vùng ven biển ĐBSCL, những ngày qua nước mặn (NM) xâm nhập sâu vào đất liền. Theo Cty Khai thác Công tŕnh thuỷ lợi Tiền Giang (TG), t́nh h́nh NM xâm nhập năm nay sớm 15 ngày so với trung b́nh nhiều năm.
T́nh trạng này đang gây ảnh hưởng xấu tới sản xuất và sinh hoạt của cư dân nhiều vùng ở ĐBSCL. Tại các cửa sông chính ở Bến Tre (BT), NM vào sâu hàng chục km, độ mặn ở sông Hàm Luông cao đến 40/00. Ngành thuỷ lợi BT đă phải đóng trên 50 cống ngăn mặn. Ở Tiền Giang, 17.000ha lúa đông xuân ở huyện G̣ Công Đông (GCĐ) xuống giống chậm (sau ngày 15.12) đang có nguy cơ bị thiệt hại do ảnh hưởng NM hoặc thiếu nước khi đóng cống ngăn mặn. Nếu cống Xuân Hoà phải đóng sớm 15 ngày so với thời điểm đóng nhiều năm trước,  khu vực GCĐ phải trông chờ vào nguồn nước dự trữ  trên kênh, rạch, ao hồ. Ơ Tân Trung, xă xuống giống vụ đông xuân trễ nhất huyện GCĐ, những ngày này bà con nông dân đang thấp thỏm trước t́nh trạng NM xâm nhập. Bởi nếu phải đóng các cống ngăn mặn, 1.100ha lúa mới 50 ngày tuổi có nguy cơ mất trắng. Theo UBND xă Tân Trung, nếu  mất trắng 1.100ha lúa vụ này, không dưới con số ngàn hộ dân trong xă sẽ lâm vào cảnh thiếu ăn, kể cả phải cứu đói.
Diễn biến của thời tiết ngày càng có xu hướng thất thường. Chủ động đề ra các giải pháp ứng phó là  cần thiết. Cuối năm 2002, TG đă hợp đồng với Viện Khoa học Thuỷ lợi miền
Nam khảo nghiệm, đánh giá lại toàn vùng dự án ngọt hoá sau 25 năm. Theo Chi cục Thuỷ lợi TG, từ kết quả đánh giá này, sẽ có các biện pháp thích hợp kết hợp với việc xây dựng thêm hệ thống cống điều hoà nước chặt chẽ để nâng cao hiệu quả sản xuất, chủ động phóng tránh rủi ro.Tuy nhiên, cần thấy rằng, ngoài yếu tố thiên nhiên, chính con người đă góp phần làm phức tạp thêm t́nh h́nh. Tại TG, ven vùng dự án ngọt hoá, số hộ nuôi trồng thuỷ sản tự phát xả NM vào nuôi tôm gây ảnh hưởng diện tích cây trồng xung quanh. T́nh trạng "mặn hoá" có thể thấy rất rơ qua việc đưa NM vào nuôi tôm ở Bạc Liêu, và nhất là Cà Mau. Khắc phục tác động bất lợi xuất phát từ  "nhân tai" không hẳn dễ dàng hơn chế ngự những diễn biến thất thường của thời tiết!

Lao động số 55 Ngày 24.02.2003

Hệ thống sông Sài G̣n-Đồng Nai:
Giá trả cho ô nhiễm ngày càng cao

Từ khoảng tháng 12.2002 đến nay liên tục xảy ra các sự cố về ô nhiễm môi trường (ÔNMT) trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, chính xác hơn là tại 2 địa phương thuộc khu vực kinh tế động lực phía nam (KVKTĐLPN): TP/HCM  và Đồng Nai. Đây cũng là hai địa phương có hệ thống sông Đồng Nai-Sài G̣n đi qua, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu.

Mầm ô nhiễm bùng phát
T́nh trạng ô nhiễm sông rạch đă được cảnh báo từ rất lâu tại các địa phương đông dân cư và sản xuất công nghiệp phát triển như TPHCM, Đồng Nai.
Chính v́ thế, những diễn biến mới đây về sự cố ÔNMT thực chất là sự bùng phát của mầm ô nhiễm đă tích tụ hàng chục năm nay. 5 lưu vực kênh rạch TPHCM lâu nay đă trở thành những ḍng kênh đen hôi thối bởi sự phân hủy của các chất hữu cơ và đầy rác. Vụ khoảng 20 tấn cá chết ở quận 7-TPHCM mà kết quả mẫu nước từ rạch chảy vào các ao cá, sau khi phân tích cho thấy có dư lượng thuốc trừ sâu. Tiếp đến, sự cố "luồng nước đen" đến đậm đặc từ sông Vàm Thuật chảy ra sông Sài G̣n mà kết luận cuối cùng của Sở KHCNMT cho rằng do ḍng nước ô nhiễm từ kênh Tham Lương loang ra. T́nh trạng ô nhiễm đă không chỉ dừng lại ở hạ lưu sông Sài G̣n mà lan lên tới đoạn sông thuộc tỉnh B́nh Dương - phần thượng lưu. Cây trồng, vật nuôi trong môi trường nước bị hủy hoại nặng nề. Sự cố này đang c̣n trong ṿng bàn thảo về các giải pháp khắc phục, th́ mới đây lại xảy ra t́nh trạng cá bè chết hàng loạt tại Đồng Nai với số lượng lên đến 120 tấn và 30.000 con cá nhỏ ương nuôi. Theo phản ánh của các chủ nuôi cá bè là "có nguồn nước màu đen, có mùi hôi nồng của hoá chất do thủy triều đẩy từ các cống xả  của các đơn vị sản xuất phía KCN Biên Hoà 1". Tháng 7.2002 cũng đă từng xảy ra vụ chết gần 200 tấn cá bè nuôi trên sông Đồng Nai. Kênh rạch ô nhiễm trầm trọng đă đành, nhưng đến những con sông giờ đây cũng không c̣n là chốn yên ổn cho các loài thủy sinh. 

Với lượng nước thải xả thẳng vào hệ thống kênh rạch hơn 1 triệu mét khối mỗi ngày tại KVKTĐLPN hiện nay, không chỉ có các thành tố hữu cơ gây ô nhiễm mà nước thải công nghiệp c̣n mang theo các thành tố hoá học độc hại, như của ngành dệt nhuộm, xi mạ, chế biến thủy sản, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật v.v... Nếu t́nh trạng ô nhiễm không được hạn chế, khắc phục th́ hệ thống sông Sài G̣n-Đồng Nai vốn là nguồn cấp nước sinh hoạt chính cho khoảng 12 triệu dân thuộc khu vực trên sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng, đe dọa đến an toàn sự sống con người.  

Thủ phạm chính là nước thải công nghiệp!
Việc ô nhiễm kênh Tham Lương đă được xác định do nước thải từ sản xuất công nghiệp. Dọc trên tuyến kênh này hiện vẫn c̣n 28 đơn vị xả nước thải xuống kênh không qua xử lư. Chỉ có nước thải công nghiệp mới mang những đặc trưng về mùi hôi nồng nặc của hoá chất và một số chỉ số khác cho thấy sự tích tụ chất hữu cơ lâu năm phân hủy do ngành sản xuất thực phẩm tạo nên. Vụ cá bè chết trên sông Đồng Nai đang được đặt nghi vấn do nước thải của các đơn vị là Cty giấy Đồng Nai, Tân Mai, Cty đường Biên Hoà và Cty sản xuất bột ngọt Ajinomoto VN. Trong khi đó, tại TPHCM có khoảng 30.000 cơ sở sản xuất TTCN và đơn vị sản xuất công nghiệp lớn mà đại đa số xả nước thải chưa qua xử lư trực tiếp ra sông rạch.
ÔNMT do nước thải công nghiệp đă rất trầm trọng, dù đă được cảnh báo rất nhiều nhưng cuối cùng cũng trôi lờ đi bởi những áp lực về thu hút đầu tư, phát triển sản xuất và lợi nhuận. Nh́n một cách hệ thống và tổng thể - từ Bộ Công nghiệp là cơ quan quản lư nhiều nhà máy sản xuất công nghiệp lớn nhất, cho đến hai địa phương có nhiều đơn vị  sản xuất công nghiệp đóng trên địa bàn là TPHCM và Đồng Nai - đều chưa có một chiến lược triệt để và kiên quyết để giải quyết ÔNMT do sản xuất công nghiệp gây ra. Năm 2000, TPHCM từng khởi động trở lại chương tŕnh di dời DN gây ô nhiễm ra ngoại thành, nhưng tiến độ quá chậm chạp. Số DN di dời được tại TPHCM mới đếm trên đầu ngón tay, trong khi đó theo thống kê của 15/22 quận, huyện của thành phố đă có trên 930 cơ sở sản xuất cần phải di dời. Nhiều DN, đặc biệt là đơn vị trực thuộc Bộ Công nghiệp (ngành sản xuất sữa, dệt) vẫn lần lữa, trễ nải trong việc trang bị hệ thống xử lư nước thải. Sự phối hợp giữa Bộ Công nghiệp với các địa phương bị ÔNMT v́ sản xuất công nghiệp hàng chục năm qua là con số 0. Chưa kể, có những đơn vị sản xuất công nghiệp lớn cậy thế trung ương, bao năm qua tŕ hoăn thực thi các giải pháp khắc phục ÔNMT và di dời. Pháp luật về bảo vệ môi trường sống không thiếu, nhưng trong công tác quản lư về môi trường lại đang thiếu sự kiên quyết trong trách nhiệm và thừa thăi sự xuê xoa, cả nể cho nhau. Thẩm Hồng Thụy