Ai đang thờ ơ với ô nhiễm?
Đỗ Lê Tảo
Mức độ ô nhiễm môi trường nước ở Cần Thơ đang vượt quá hàng chục lần tiêu chuẩn
cho phép, tính bền vững của môi trường đang bị phá vỡ.
Đổ xuống sông... "từ A đến Z"
Hiện nay, chất thải sinh hoạt, các chất thải hữu cơ của con người, động
vật; chất thải từ chợ, bệnh viện và từ các khu công nghiệp... đều đang được tống
hết xuống các con sông, kênh, rạch thuộc địa bàn tỉnh Cần Thơ. Trong năm 2001
Cần Thơ đă sử dụng đến 110.290 tấn phân bón hoá học, thuốc BVTV trong sản xuất
nông nghiệp. Số hoá chất độc hại đó một phần thấm vào đất đai, cây, cỏ...phần
c̣n lại tháo đổ ra xâm nhập các nguồn nước mặt, gây ô nhiễm. Theo thống kê của
Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường Cần Thơ, trung b́nh mỗi ngày 1 người dân đô
thị Cần Thơ thải ra hơn 0,89 kg rác. Lượng rác thu gom đổ vào băi rác chỉ khoảng
60%, số c̣n lại người dân đổ ra sông, ao hồ, cống rănh, kênh, rạch gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng. Khi tiếp xúc với phóng viên Báo Lao Động, ông Bùi Minh
Tạo (Phó Giám đốc Sở KHCN&MT Cần Thơ) tỏ ra lo lắng cho vấn đề chất thải từ 6-7
bệnh viện: "Ước tính mỗi ngày có 1 tấn bệnh phẩm y tế được thải "vô tư" xuống
sông. Hầu hết các bệnh viện hiện nay vẫn chưa có hệ thống xử lư chất thải. Không
chỉ có hoá chất, rác, bệnh phẩm, theo ghi nhận của chúng tôi trên hầu hết các
sông, kênh trên địa phận tỉnh Cần Thơ, người dân đua nhau lấn chiếm ḷng sông,
làm cản trở ḍng chảy, cản trở giao thông đường thuỷ và tranh thủ sử dụng khoảng
sông nhỏ hẹp ấy như một hệ thống WC. Theo kết quả khảo cứu của Ban Giám sát môi
trường Cần Thơ, ô nhiễm dầu trên các tuyến giao thông thuỷ: Rạch Cần Thơ, kênh
Phụng Hiệp, Kênh Ô Môn... đang rất nghiêm trọng (0,01-0,1 mg/l). Ông Bùi Minh
Tạo lo lắng nói: "Sự cố tràn dầu có thể sẽ xảy ra bất cứ lúc nào và đó sẽ là
thảm hoạ môi trường. Đáng tiếc là đến nay vẫn chưa có cơ quan nào đặc trách xử
lư vấn đề này".
Hậu quả đă rơ
Theo báo cáo đánh giá môi trường của Sở KHCN&MT Cần Thơ, nước các sông
chính (sông Tiền, sông Hậu) đang bị ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm vi trùng với nồng
độ BOD (chỉ tiêu nói lên mức độ ô nhiễm nước do chất hữu cơ) 2-4 mg/l; và
coliform (loài vi sinh vật chỉ thị cho biết vật mang nó bị nhiễm phân người,
động vật) từ 100-10.000 MPN/100ml. Các kênh rạch bị ô nhiễm với nồng độ BOD
10-15 mg/l vượt tiêu chuẩn cho phép 2-3 lần; coliform 5.000 -100.000 MPN/100ml
vượt tiêu chuẩn cho phép 20 lần; hoá chất BVTV hiện diện trong nước các kênh,
rạch ở mức đáng báo động. Mặt nước vùng nông thôn bị ô nhiễm chủ yếu là do chất
hữu cơ và vi trùng. Về chất hữu cơ đến năm 2001 đă tăng vượt tiêu chuẩn cho phép
từ 2-3 lần, nồng độ NH3 tại các điểm quan trắc thuộc khu vực nội đồng cũng cao
gấp 3-10 lần mức tiêu chuẩn cho phép. Nguồn nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng đă
kéo theo sự ô nhiễm nước ngầm. Kết quả phân tích cho thấy: Các mẫu nước ngầm
thuộc huyện Long Mỹ (thị xă Vị Thanh) có hàm lượng clorua rất cao, lớn hơn 1.000
mg/l, vượt từ 2-5 lần so với tiêu chuẩn cho phép (200-600 mg/l); hàm lượng
sulfat từ 300-600 mg/l vượt quá hàm lượng cho phép từ 1,5-2 lần. Ô nhiễm môi
trường nước ở Cần Thơ đă, đang và sẽ gây ra những hậu quả hết sức nặng nề. Theo
nguồn tin từ Sở Y tế Cần Thơ, mỗi năm các bệnh viện ở Cần Thơ điều trị b́nh
quân 431 ca hội chứng lỵ, 57 ca lỵ amip, 33.000 ca tiêu chảy, 424 ca thương hàn
và nhiều chứng bệnh nguy hiểm khác... có nguyên nhân từ việc nguồn nước bị ô
nhiễm.
Nghiêm trọng và bức bách là vậy, nhưng hàng năm ngân sách chi cho vấn đề bảo vệ
môi trường sống cho con người chỉ là 440 triệu đồng (cấp tỉnh), 690 triệu đồng
(7 huyện, 1 thị xă,TP. Cần Thơ). Hiện ai đó vẫn chủ quan rằng t́nh trạng ô nhiễm
nước sông Tiền và sông Hậu vẫn ở mức có thể chấp nhận được nhưng đó là ở đầu
nguồn. C̣n ở cuối nguồn, mức độ ô nhiễm đă nghiêm trọng. Bao giờ con sông nơi
đây được trả lại như cái thuở: "gạo trắng, nước trong..."?
Theo Lao Dong 08-03-02
Báo động về
nguồn nước
Mặc dù Luật Tài nguyên môi trường nước đă được Quốc hội thông qua hơn 4
năm nay, nhưng việc quản lư bảo vệ nguồn lợi quư giá này vẫn chưa có biểu hiện
ǵ đáng kể. Trong khi đó tài nguyên nước đă và đang cạn kiệt dần, đồng thời
t́nh trạng ô nhiễm nguồn nước đă trở thành mối đe doạ thường xuyên cho sản
xuất và đời sống của nhân dân, đặc biệt là ở các thành phố lớn và các khu công
nghiệp. Phóng viên Báo Lao Động từ các địa phương phản ánh t́nh trạng bức xúc
này.
Cạn kiệt và ô nhiễm
Từ tháng 3.2002 đến nay, Chi cục Quản lư nước và Pḥng
chống Lụt băo TP.Hồ Chí Minh đă tiến hành đo đạc, theo dơi t́nh h́nh biến
đổi mực nước ngầm. Kết quả cho thấy, ở cả 3 tầng chứa nước theo thứ tự từ trên
xuống dưới, mực nước bị hạ thấp liên tục. Tại tầng 1 do gần nguồn bổ cấp nên
mực nước ngầm thay đổi theo mùa. Tuy nhiên, tại các trạm Tân Sơn Nhất và Linh
Trung (Thủ Đức), mực nước đo được của tầng này đang thấp dần. Tại tầng 2, mực
nước cũng hạ qua các lần đo đạc, trạm B́nh Hưng có biên độ hạ thấp là 1,69m,
tại trạm Tân Sơn Nhất biên độ hạ thấp lên đến 4,33m. Càng gần trạm khai thác
nước ngầm công suất lớn, mực nước hạ thấp càng nhiều. Ở Tân Chánh Hiệp (quận
12) gần Nhà máy bia Sài G̣n và Nhà máy nước giải khát IBC mực nước hạ thấp
đến 4,05m. Kết quả khảo sát tầng nước ngầm thứ 3 cho thấy: Mực nước tại trạm
Phú Trung hạ 1,45m qua các lần đo, trạm Tân Tạo (B́nh Chánh) hạ 4,59m. Khu vực
nội thành do khai thác nhiều nên hầu hết các trạm đều có biên độ hạ thấp rất
lớn, trạm Tân Sơn Nhất hạ 4,11m và trạm Tân Chánh Hiệp 3,68m.
Theo khảo sát của Liên đoàn Địa chất 8 th́ trữ lượng nước ngầm của TPHCM vào
khoảng 1 triệu mét khối/ngày đêm. Thống kê của Chi cục QLN-PCLB cho thấy mức
khai thác của toàn thành phố hiện nay trên 550.000m3/ngày đêm. Trong đó người
dân khai thác phục vụ sinh hoạt khoảng 100.000m3, các trạm khai thác công ích
chiếm khoảng 100.000m3, c̣n lại là khai thác của các nhà máy, xí nghiệp. Như
vậy, mức khai thác chưa cao so với trữ lượng cho phép. Nhưng trên thực tế,
hiện tượng cạn kiệt nước ngầm vẫn diễn ra do khai thác tràn lan, thiếu quy
hoạch.
T́nh trạng cạn kiệt nguồn nước cũng diễn ra ở hầu hết các thành phố lớn - nơi
có nhu cầu khai thác, sử dụng rất cao. Trong khi đó, t́nh trạng ô nhiễm nguồn
nước cũng đáng báo động.
Số liệu điều tra của Liên đoàn Địa chất thủy văn miền Bắc cho thấy hàm lượng
sắt, mangan, kẽm trong nước ngầm khắp mọi nơi ở Hà Nội đều cao hơn tiêu chuẩn
cho phép, đặc biệt là mangan. Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường (Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với UNICEF tiến hành điều tra
nhiễm bẩn asen ở vùng Hà Nội, Việt Tŕ và đă ghi nhận rằng, các mẫu nước giếng
ở Quỳnh Lôi, Thanh Nhàn (Hà Nội) chứa hàm lượng asen cao hơn tiêu chuẩn cho
phép là 25%. Vấn đề nhiễm bẩn asen, một kim loại nặng rất độc đă được phát
hiện ở Hà Nội từ năm 1990, và được nhiều phương tiện thông tin đại chúng phản
ánh, đến nay vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm. Hội Hoá học Hà Nội (Liên hiệp
các Hội khoa học kỹ thuật Hà Nội)cho biết: Theo kết quả một số nghiên cứu khác
th́ thuỷ ngân cũng là đối tượng gây nhiễm bẩn nước ngầm ở Hà Nội và cần có sự
đánh giá nghiêm túc. Theo các tác giả này th́ ở vùng Thanh Tŕ, Thanh Xuân (Hà
Nội) có đến 97,7% mẫu nước ngầm khai thác ở tầng trên cùng và 83% mẫu nước ở
tầng dưới bị nhiễm Hg.
Tại TP.Hồ Chí Minh, ngay cả ở các trạm của Cty cấp nước đang khai thác cũng đă
có hiện tượng ô nhiễm hữu cơ. Tầng 1 gần nguồn bổ cấp nên có mức độ ô nhiễm
nặng nhất. Nhiều mẫu kiểm nghiệm cho thấy hiện tượng nhiễm nitrát, nitrít và
cả phenol là rất phổ biến. Đặc biệt phenol là chất rất độc hại hiện chưa có
khả năng xử lư. Theo "bản đồ" ô nhiễm th́ khu vực phía bắc thành phố nguồn
nước ngầm thường bị ô nhiễm chất hữu cơ như nitrát, nitrít và thuốc trừ sâu,
phân bón. Khu trung tâm thành phố gần các kênh rạch (từ Rạch Tra trở vào) bị ô
nhiễm kim loại nặng, phenol...
Hiện nay toàn thành phố có khoảng 300.000 giếng khoan gia đ́nh, hầu hết không
qua xử lư ô nhiễm. Một số loại hóa chất gây ô nhiễm không màu, không mùi nên
người dân không thể phát hiện bằng cảm quan.
Nhiễm mặn cũng
là tai hoạ
Mấy năm trở lại đây, trong mùa nắng kiệt từ
tháng 7 - 9, nước sinh hoạt tại các thành phố Nha Trang (Khánh Hoà), Đà Nẵng
và Huế (Thừa Thiên-Huế) đều bị nhiễm mặn nghiêm trọng và không sử dụng được.
Riêng năm nay có thể nói là năm khốc liệt nhất, chưa từng có tại các địa
phương này. Tại thành phố Nha Trang, nước sinh hoạt của hầu hết người dân
thành phố do Công ty cấp nước cung cấp bị nhiễm mặn chưa từng có. Do lượng mưa
b́nh quân đầu nguồn thấp, nước trên sông Cái cạn kiệt, tạo cơ hội cho nước
biển xâm nhập vào sâu trong đất liền đến 9km, vượt qua cửa lấy nước của Trạm
cấp nước sông Cái. Độ mặn đo được có thời điểm lên đến 12.000 mg muối/ lít
nước, vượt độ mặn cho phép trong nước sử dụng sinh hoạt hàng trăm lần. UBND
tỉnh Khánh Hoà buộc phải xây dựng ngay một đập ngăn mặn với vốn đầu tư 250
triệu đồng, nhưng vẫn không có tác dụng ǵ khi nước mặn đă nhiễm quá sâu.
Không chỉ người dân bị ảnh hưởng, mà nhiều nhà máy, xí nghiệp ở Nha Trang sử
dụng nước sông Cái phải tạm thời ngừng sản xuất. Chỉ riêng Cty dệt Nha Trang,
từ ngày 12.7, gần 3.000 công nhân đă phải nghỉ việc do nguồn nước nhiễm mặn,
không có nước sản xuất. Tính ra mỗi ngày Cty thiệt hại 1 tỉ đồng.
Tại TP.Huế, một tháng qua cũng lâm vào t́nh trạng tương tự như Nha Trang. Nước
từ biển qua cửa Thuận An đă nhiễm mặn ḍng sông Hương đến 32,8km, vượt qua
họng lấy nước của Nhà máy nước Vạn Niên gần 3km. Độ mặn của nước sinh hoạt
không thể sử dụng được. Do vậy đă một tháng qua, nguồn nước để ăn uống, người
dân dựa chủ yếu vào các nhà máy sản xuất nước khoáng hay nước tinh khiết khai
thác từ mạch nước ngầm.
Ai quản lư, bảo vệ nguồn nước?
Theo
Lao Dong 08-01-02