Ô NHIỄM
THUỐC SÁT TRÙNG: D D T
Mai Thanh Truyet Ph. D.
Abstract:The widespread and indiscriminate use of pesticides in
"Hóa chất đã thay thế vi khuẩn và siêu vi khuẩn trong
các nguy cơ cho sức khoẻ con người. Các bịnh bắt nguồn từ hóa
chất đang trở thành nguyên nhân hàng đầu trong tử suất của loài người vào cuối
thế kỷ XX và sẽ qua cả thế kỷ XXI. "
Pesticides là một nhân tố chính mà nông nghiệp thế giới dùng để làm tăng năng
xuất thu hoạch song song với việc sử dụng phân bón, từ đó gia tăng mức sống
kinh tế của loài người. Tuy nhiên Pesticides cũng là nguyên
nhân của những thảm trạng khác mà loài người phải trả. Khi xâm nhập được rồi, các chất Pesticides sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ
con người và biến đổi môi trường sống xung quanh một cách khắc nghiệt.
Các tác động của Pesticides trên môi sinh chưa được khoa học nghiên cứu đúng mức
do đó biện pháp phòng ngừa và kiểm soát cũng chưa được sát thực.
Ảnh hưởng lâu dài của Pesticides trên con người vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng
trước khi Pesticides được cho phép mang ra sử dụng. Chỉ sau
quá trình sử dụng lâu dài và các phản ứng phụ phát hiện ra rồi mới biết ảnh hưởng
của các tác hại mà thôi.
Pesticides nói chung là các hóa chất độc, phân loại
tùy theo khả năng: Herbicides: Tiêu diệt cây cỏ được xếp vào loại thuốc trừ cỏ
dại. Insecticides: Tiêu trừ một số côn trùng thuộc loại thuốc trừ sâu rầy.
Fungicides: Tiêu diệt một số nấm độc hại thuộc loại thuốc trừ nấm mốc. Ngoài
hóa chất chính cấu tạo thành ba loại thuốc kể trên, phần phụ gia chiếm tỷ lệ từ
90-98% của hỗn hợp. Các chất phụ gia này còn có thể là mầm móng của bịnh ung thư và một số bịnh khác.
Các thuốc trên xâm nhập vào cơ thể con người từ nhiều cách khác nhau:
·
hấp thụ xuyên qua các lỗ chân lông ở
ngoài da;
·
đi vào thực quản theo thức ăn hoặc
nước uống;
·
hoặc đi vào khí quản qua đường hô hấp.
Tùy theo vùng sinh sống và cách làm ăn sinh hoạt, con người
có thể bị nhiễm độc trực tiếp hay gián tiếp: 1- dân sống trong vùng nông nghiệp
chuyên canh về lúa thường bị nhiễm độc qua đường nước; 2- vùng chuyên canh về
thực phẩm xanh như các loại hoa màu, bị nhiễm qua đường hô hấp nhiều nhất; và
sau cùng, 3- dân vùng thị tứ bị nhiễm khi tiêu thụ các thực phẩm đã bị nhiễm độc.
Phải liệt kê thêm một số gia súc và thú rừng ... đã bị nhiễm độc, làm người
tiêu thụ khi ăn phải sẽ bị nhiễm theo (tình trạng này chiếm đa số các vụ nhiễm độc ở Việt
Trung Tâm Kiểm Ðịnh Thuốc Bảo Vệ Thực Vật đã báo cáo về tình trạng ô nhiễm thuốc trừ sâu rầy ở
Việt Nam là: "Sau khi rửa sạch nấu chín dư lượng độc chất trong thuốc trừ
sâu Methamidophos (loại pesticide chứa phosphat hữu cơ) còn lại trong rau tươi
vẫn vượt quá mức cho phép và còn có thể gây ngộ độc. Dư lượng thuốc trên trong
cải ngọt là 315.3 mg/kg; sau khi rửa sạch và nấu chín cải ngọt, dư lượng thuốc
còn 0.183 mg/kg, vượt quá 46 lần mức cho phép ăn được của một người nặng 50 kg.
Trong kết quả phân tích 256 mẫu rau tại chợ Mai Xuân Thưởng, Cầu Muối, Bà Chiểu
trong năm 1996 cho thấy 57% số mẫu có dư lượng Methamidophos vượt mức cho phép
từ 50 lần trở lên." (Thông Tấn Xã VN 7/98)
Khó tưởng tượng hơn nữa là gần đây, một chuyên gia thuộc công ty cấp nước thành
phố HCM cho biết rau muống được trồng rải rác khắp các mạng lưới kinh rạch
trong thành phố và được xịt thuốc trừ sâu bằng ... cặn nhớt xe phế thải. Nhớt
tưới lên cây rau muống có mục đích làm tăng độ xanh tươi của cây và ngăn chận sự
xâm nhập của sâu bọ !
Các dự kiện trên cho thấy rằng vì sinh kế khó khăn thêm nên
nhà trồng tỉa cố tìm đủ phương cách để làm tăng lợi nhuận. Vì dân trí còn quá thấp kém nên các di hại về sau cho người tiêu
dùng không được lưu tâm. Hơn nữa chính quyền không đủ khả năng và nhân lực
để kiểm soát mọi vi phạm (hoặc xem đây là một ưu tiên
thấp so với các khó khăn khác như quốc phòng, kinh tế, an ninh nội chính v.v.)
Ða số các Pesticides đang được sử dụng ở Việt Nam là các hợp chất hữu cơ chứa một
hay nhiều nhân tố Chlor hay Phosphate kết hợp với nhân Benzene do đó rất khó bị
tiêu hủy trong thiên nhiên dù trong một thời gian rất dài. Theo thống kê, nông
dân miền Tây dùng 26 loại thuốc trừ dịch hại bảo vệ lúa và các cây ăn trái
trong đó DDT được sử dụng nhiều nhất. (Thống kê này không ghi rõ dung lượng DDT
đã được sử dụng). [Ðồng bào di cư năm 1954 chắc hẳn chưa quên hình ảnh của một
loại bột trắng, không mùi được xịt thẳng vào người từ đầu đến chân trước khi bước
chân xuống tàu há mồm để xuôi Nam! Ðó chính là DDT đã được
dùng để khử trùng trên những người dân di cư.]
Bài viết nầy nhằm chú trọng vào các ảnh hưởng và tác động ngắn hạn và dài hạn của
DDT trên cơ thể con người cũng như đưa ra một số đề nghị để giải quyết vấn đề ô
nhiễễm nói trên.
DDT [ 1,1,1-trichloro-2,2-bis-(p-chlorophenyl)ethane] đã được
tổng hợp vào năm 1874, nhưng mãi đến 1930, Bác sĩ Paul Muller (Thụy Sĩ ) mới
xác nhận DDT là một hóa chất hữu hiệu trong việc trừ sâu rầy và từ đó được xem
như là một thần dược và không biết có ảnh hưởng nguy hại đến con người. Khám
phá trên mang lại cho ông giải Nobel về y khoa năm 1948 và DDT đã được sử dụng
rộng rãi khắp thế giới cho việc khử trùng và kiểm soát mầm mống gây bịnh sốt
rét.
Nhưng chỉ hai thập niên sau đó, một số chuyên gia thế giới đã khám phá ra tác hại
của DDT trên môi trường và sức khỏe người dân. Do đó, tại Hoa Kỳ từ năm 1972
DDT đã bị cấm sử dụng hẳn. Tuy nhiên cho đến hôm nay, các nhà chế tạo Mỹ vẫn tiếp
tục sản xuất DDT để xuất cảng qua Phi châu và các nước Á châu trong đó có Việt
Nam (300.000 kg/năm). Theo tài liệu của National Safety Council Hoa Kỳ (7/98)
năm 1962, Hoa Kỳ tiêu thụ 80 triệu Kg DDT và sản xuất ra 82 triệu, và năm 1972
Hoa Kỳ chỉ tiêu thụ 2 triệu Kg.
DDT tuy đã bị cấm ở Hoa Kỳ từ năm 1972 nhưng đến nay hoá chất này vẫn còn là một
vấn nạn cho EPA Hoa Kỳ ở những vùng nông nghiệp và những vùng quanh nhà máy sản
xuất ra DDT. Hiện tại DDT vẫn còn ngưng tụ nơi thềm lục địa vùng Palos Verdas
(ngoài khơi vùng biển Los Angeles) vì nhà máy sản xuất DDT Montrose Chemical,
Co. tại Torrance đã thải DDT vào hệ thống cống rãnh thành phố vào năm 1971. Việc xử lý ô nhiễm DDT cho vùng này ước tính sẽ tốn kém vào khoảng
300 triệu USD.
Tuy không có số liệu chính xác về số lượng DDT đang được sử dụng ở Việt Nam,
nhưng tin tức từ quốc nội cho biết rằng thuốc này vẫn còn đang được áp dụng rộng
rãi đặc biệt ở vùng châu thổ sông Cửu Long vì là vùng có nhiều sông rạch và nhiều
muỗi mồng.
Lượng DDT tích tụ trong môi trường tăng dần theo thời gian và tùy liều lượng sử
dụng của dân chúng; sau khi sử dụng DDT vẫn tiếp tục tồn tại trong nguồn nước,
lòng đất và bụi DDT vẫn lơ lửng trong không khí ... DDT không hòa tan trong nước
nhưng hòa tan trong dung môi hữu cơ và được EPA Hoa Kỳ xếp vào danh sách các loại
hóa chất phải kiểm soát vì có nguy cơ tạo ra ung thư cho người và vật.
Tiếp xúc trực tiếp vớI DDT làm cho da bị ngứa, khó chịu khi chạm vào mắt và làm
chảy nước mủi khi hít vào. Ở liều lượng cao hơn, có thể ảnh
hưởng lên hệ thần kinh và khi trực tiếp tiếp xúc vớI DDT trong thời gian dài có
thể bị sơ gan (dạng necrosis).
Trẻ con bú sữa mẹ hay sữa tươi bị nhiễm độc DDT trực tiếp qua sự hiện diện của
DDT trong sữa tươi hay gián tiếp vì thức ăn của người
mẹ. Các hiện tượng sau đây được quan sát trong trường hợp bị nhiễm DDT từ nhẹ như: nhức
đầu, cảm thấy người yếu dần, tê các đầu ngón tay ngón chân, thường hay bị chóng
mặt; cho tới nặng hơn như: mất trí nhớ, sống trong tâm trạng hồi họp thường
xuyên, bị co thắt ở cơ ngực, không kiểm soát được đường tiểu, thở rất khó khăn
và đôi khi bị động kinh. Tệ hại hơn nữa, nhiều bà mẹ đã bị xảy thai trong vùng ảnh hưởng của DDT. Nhiều nông dân sống trong
những vùng trên đã từng bị ung thư đường tiêu hóa. Ðiều nầy đã nói lên tầm quan trọng của hậu quả của DDT sau một thời
gian sử dụng dài hạn. Nên nhớ, việc sử dụng hóa chất trên trong một thời
gian dài sẽ làm tăng thêm sức đề kháng của chính các sinh vật DDT phải tiêu trừ,
từ đó người ta lại phải tăng thêm liều lượng sử dụng DDT thêm lên!
Gần đây DDT còn là một trong 12 loại hoá chất được các nhà khoa học thế giới xếp
vào hạng Persistent Organic Pollutants (POPs)- đó là các hạt bụi ô nhiễễm hữu
cơ không bị hủy diệt trong không khí. Theo báo Chemical & Engineering News
(7/98), đại diện của 92 quốc gia trên thế giới đã tụ họp tại Montreal (Gia Nã Ðại)
để bàn thảo về các biện pháp như cấm sản xuất và sử dụng các hoá chất trên vì
lý do độc hại của chúng do sự tích lủy lâu dài trong không khí, lòng đất và nguồn
nước, kết tụ vào các mô động thực vật - nguồn thực phẩm chính của loài người.
Tuy nhiên cuộc hội thảo vẫn chưa đưa ra một giải đáp xác đáng nào cả vì còn nhiều
trở ngại do quyền lợi riêng của các quốc gia liên hệ. Tuy
nhiên thế giới vẫn lạc quan và hy vọng sẽ đạt được một hiệp ước toàn cầu về việc
cấm sử dụng các hóa chất trên vào năm 2000.
Việc sản xuất Pesticides và một số hóa chất hữu cơ POPs kể trên đem lại lợi ích
kinh tế thật đáng kể cho quốc gia sản xuất , vì trên
quả đất nầy còn hơn ba tỷ người ở các nước đang mở mang vẫn còn dùng đến các
hoá chất trên như "phương tiện duy nhất để khử trùng và sát trùng".
Do đó việc cấm sử dụng hoàn toàn các hóa chất trên cần phải đứng trên bình diện
thật nhân bản: Các quốc gia tiên tiến cần hy sinh, giảm đi lợi nhuận, ngưng
cung cấp các hóa chất vốn đã biết là độc hại này, và nhận trách nhiệm nghiên cứu
giúp các nước kém mở mang tìm ra các hóa chất hay phương sách khác tốt hơn để
khử trùng, trừ sâu rầy và diệt cỏ dại...
Ngành công nghệ sinh học (Biotechnology) đang được nghiên cứu và áp dụng rộng
rãi ở các nước tiên tiến sẽ là biện pháp hữu hiệu nhất để kiểm soát cỏ dại và
sâu rầy. Công nghệ này áp dụng phương pháp cấy mô hay tế bào vào cây cỏ hay động
vật để tạo ra kháng thể tự nhiên cho các thế hệ về sau do đó cây cỏ và gia súc
sẽ được miễn nhiễm và từ đó cho năng suất cao ...
Trở lại tình trạng Việt Nam hiện tại, như đã trình bày ở phần trên và với cái
nhìn tích cực hướng về tương lai, một số đề nghị để giải quyết vấn nạn sử dụng
thuốc trừ sâu rầy bừa bãi, không đúng liều lượng được lần lượt trình bày sau
đây:
Trước hết về phía chính quyền, phải lưu tâm hơn nữa về vấn đề
kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất và nhập cảng hóa chất liên hệ, chận đứng việc
nhập cảng bất hợp pháp ... kiểm kê và kiểm tra các hóa chất sử dụng để bào chế
thuốc cũng như liều lượng hóa chất nhập cảng và phân phối cho từng vùng. Biết
được lượng thuốc và loại thuốc sử dụng ở từng vùng sẽ mang lại một lợi ích rất
lớn là khi có ngộ độc cá nhân hay tập thể, việc tích trữ thuốc chữa, truy tìm
nguyên nhân sẽ dễ dàng hơn, việc cứu cấp được nhanh chóng hơn và có thể phòng ngừa, hạn
chế hay chặn đứng được các vụ nhiễm độc đó.
Phổ biến những tài liệu chỉ dẫn dễ hiểu về từng loại hóa chất, cách dùng và liều
lượng áp dụng cho từng loại hoa màu và gia súc (mức ấn định sử dụng DDT theo tiêu chuẩn EPA Hoa Kỳ là < 2.5% tinh chất). Từ đó người dân được học hỏi và biết dùng hóa chất trong đời sống
hàng ngày, nhất là đối với dân sống ở nông thôn ít được tiếp xúc với thành phố
vì phương tiện giao thông bị hạn chế.
Về phía người dân, cần phải vứt bỏ những định kiến sai lầm đã có từ đời này
sang đời khác trong cách dùng thuốc, bỏ các thói quen để chấp nhận phương cách
mới hầu thâu đạt năng xuất sản xuất, giảm thiểu việc sử dụng thuốc bừa bãi và
không hợp lý để bảo vệ môi trừơng sống của chính mình và những người chung
quanh.
Sử dụng thuốc khi thật sự cần thiết và đúng thời điểm tùy theo
sự tăng trưởng của từng loại nông phẩm hoặc gia súc nhằm tránh lạm dụng và ảnh
hưởng đến năng suất.
Và sau hết để bảo vệ sức khoẻ, cần cố tránh tiếp xúc trực tiếp với thuốc để thuốc
khỏi phải thấm vào da thịt, và cố tránh việc dùng thuốc gần các nguồn nước sinh
hoạt hàng ngày. Nên nhớ dù DDT không hòa tan trong nước nhưng những hạt bụi li
ti vẫn có thể lơ lửng trong nước hay trong không khí hoặc trong đất và rất dễ
xâm nhập vào cơ thể con người.
Việt
Mai Thanh Truyết 9/98