WATER NITRATE POLLUTION IN THE
MEKONG DELTA -
Ô NHIỄM NITRATE TRONG
NƯỚC VÙNG CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG
Mai Thanh Truyết, Ph.D.
Vùng Châu Thổ Sông
Cửu Long là vựa lúa lớn nhất ở Việt Nam, rộng 39.574.000 mẩu tây, chiếm 12% tổng
diện tích Việt Nam. Với hình thể một bán đảo có ba mặt đều giáp biển, Châu Thổ
Sông Cửu Long có một sắc thái khí hậu rất đặc biệt, một mặt chịu tác động của hệ
thống biển phía Ðông và Tây, một mặt chịu ảnh hưởng của thủy triều khác nhau:
phía Tây giáp với Vịnh Thái Lan và phía Ðông với Biển Nam Hải. Vì vậy, vùng nầy
có một đặc điểm hiếm thấy là trên cùng một châu thổ có nhửng con sông chảy ngược
chiều nhau: sông đổ ra biển phía Ðông, sông đổ ra biển phía Tây và nhửng sông
khác nối liền biển Ðông và Tây. Thêm vào đó, Châu Thổ Sông Cửu Long còn chịu ảnh hưởng của gió mùa
Tây Nam từ tháng năm đến tháng mười một (mùa mưa); và mùa khô có gió Ðông Bắc từ
tháng mười hai đến tháng tư. Lượng mưa trung bình khoảng 2.400 mm ở phía Tây và
1.600 mm ở phía Ðông. Vùng nầy là vùng duy nhất ở Ðông Nam Á không bị tác đông
trực tiếp của giông bảo nhiệt đới, do đó khí hậu tương đối ổn định và có số giờ
nắng trung bình hàng năm là 2.400 đến 2.800 giờ, rất thuận lợi cho việc trống
trọt và chăn nuôi.
Ðó có lẽ là lý do
dân số phát triển nhanh chóng từ 2.9 năm 1954 đến 15.5 trong năm 1995 và củng vì
vậy nẩy sinh ra một số vấn đề phục vụ cho nhu cầu đời sống không theo kịp với
mức độ gia tăng dân số như việc phát triển đô thị, nhu cầu giao thông, giáo dục,
lương thực và nhất là vấn đề môi sinh và ô nhiễm môi trường, trong đó nước
sinh hoạt cho dân chúng có tầm quan trọng hàng đầu. Trong phạm vi bài viết hôm
nay, người viết xin trình bày vấn đề ô nhiễm nước sinh hoạt trong vùng, đặc
biệt là ô nhiễm nitrate.
Ô nhiễm nitrate
trong nguồn nước là một ưu tư rất lớn, nhất là trong các vùng sản xuất lúa gạo
và nông phẩm cần đến việc xử dụng nhiều phân bón như ở vùng Châu Thổ Sông Cử
Long. Bản chất của nitrate (NO3-) tự nó không ảnh hưởng gì đến sức khỏe của con
người và thú vật; nhưng khi xâm nhập vào cơ thể con người, Nitrate có thể bi6n
dạng thành Nitrite (NO2-) và dưới dạng nầy có thể gây tử vong cho trẻ con dưới
sáu tháng, trước khi hệ thống tiêu hóa của trẻ em được cấu tạo hoàn chỉnh.
Vì lý do đó, vấn đề
Nitrate cần phải được lưu tâm nhiều hơn nửa trong đời sống hằng ngày. Nitrate
thường hiện diện dưới dạng kiềm (Kalium và Natrium), kiềm thổ (Magnesium và
Calcium), Nhôm, Sắt và một số kim loại nặng khác... Nitrate hòa tan dể dàng
trong nước, thẩm thấu mau vàu lòng đất và mạch nước ngầm. Nồng độ Nitrate cho
phép có trong nước uống là 45mg/L (tiêu chuẩn của Bộ KHCN & MT 1995).
Nhửng vùng có
nhiều Nitrate, nước có độ ỗ nhu cầu sinh hóa oxyỗ (Biochemical Oxygen Demand -
BOD) cao tùy theo cường độ xâm nhập của Nitrate. Nếu lượng BOD > 25 mg/L theo
tiêu chuẩn Mỷ, thì có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người và thú vật. Sự hiện
diện của Nitrate củng làm tăng lượng các chất rắn hòa tan trong nước (Total
Dissolved Solids - TDS). Nếu lượng TDS > 20 (tiêu chuẩn VN 1995), nước trở
thành nguy hại đến sức khỏe con người.
Nitrate đến từ đâu ? Và ảnh hưởng của nó trên con người và thú vật như thế
nào ?
Ðể trả lời hai câu
hỏi trên, nhìn lại bối cảnh Việt Nam, đặc biệt Vùng Châu Thổ Sông Cửu Long là
nơi dân chúng sống chen chúc giửa hai Sông Tiền và Hậu, chen lẩn vô số kinh rạch
chảy ngang dọc chằng chịt trong suốt mười một tỉnh trong vùng. Phía Bắc Sông
Tiền gồm tỉnh Ðồng Tháp, Long An, Tiền Giang; giửa hai sông gồm Bến Tre, Trà
Vinh, Vỉnh Long và sau cùng ở phía Tây Sông Hậu gồm tỉnh An Giang, Cần Thơ, Sóc
Trăng, Kiên Giang và Minh Hải. Mật độ kinh rạch từ 0.4 đến 0.6 Km/Km2, có độ cao
từ 0.0 m đến 1.5 m so với mặt biển. Ðặc biệt ở vùng trung tâm Châu Thổ có nơi
thấp hơn trên mặt biển nhiều và là vùng có độ thoát thủy rất kém. Dân chúng
trong vùng đa số theo nghề nông và sản xuất lúa gạo là nguồn lợi chính. Phân bón cho nông
nghiệp chứa nguồn Nitrate chính, số lượng Nitrate không được cây cỏ hấp thu hết
sẽ tồn tại trên mặt đất hoặc theo đường nước thẩm thấu xâm nhập vào mạch nước
ngầm. Ðể có một khái niệm về lượng phân bón được xử dụng ở vùng trên theo thống
kê năm 1965, lượng phân bón được xử dụng trung bìng là 63KG/Mẩu/Mùa và cho đến
năm 1990 dân chúng đã xử dụng trung bình 74 KG/Mẩu/Mùa phân bón. Tuy không có số
liệu chính xác về năng xuất lúa trong hai giai đoạn kể trên nhưng với năng xuất
khoảng 8 Tấn/Mẩu/Mùa lúacho năm 1965, thiết nghỉ năng xuất trong năm 1990 chắc
chắn không tăng thêm (ở Mỷ tại Iowa trong vòng hai mươi năm từ 1960 đến 1980
lượng phân bón tăng hơn 80%, nhưng mức sản xuất bắp chỉ tăng được 10% mà thôi
!). Các nơi bị nhiễm Nitrate theo tài liệu của Lê Huy Bá là hệ thống kinh
Cái Sắn, kinh Tám Ngàn và Tứ Giác Long Xuyên (Môi Trường - Lê Huy Bá - Nhà Xuất
Bản KHKT 1997 - VN). Phân người và phân
súc vật củng là một nguồn Nitrate quan trọng. — Vùng Châu Thổ Sông Cửu Long đa
số dân chúng đi đại tiện trên sông hoặc trên đồng trống củng như trên các hồ
nuôi cá... tạo điều kiện cho việc ô nhiễm Nitrate trầm trọng, nhất là về mùa
nước lủ. Ðặc biệt trên Vùng
Châu Thổ Sông Cửu Long, Nitrate được tạo thành do các phản ứng oxid hóa chậm các
hợp chất hửu cơ như cây cối, đất và các chất khác đã trầm tích lâu ngày dưới
đất.. do bị dìm sâu đưới mặt nước. Căn cứ trên các
nguồn tạo ra Nitrate kể trên, con người đã dự phần đáng kể không kém thiên nhiên
vào việc tạo ra ô nhiễm hóa chất nầy. Theo ước tính của US Geological Survey
thì trên đất Mỷ, ô nhiễm Nitrate do con người tạo ra là 50% và các nguyên
nhân khác gồm cả thiên nhiên là 50%. Nhưnh trong điều kiện Việt nam, thiết nghỉ
con người góp phần vào việc ô nhiễm trên nhiều hơn ước tính của Hoa kỳ !
Việc Nitrate ảnh hưởng đến con người được ghi nhận như sau:
Theo khuyến cáo của
UNICEF Liên Hiệp Quốc, nitrate trong nguồn nước là một nguy cơ ảnh hưởng đến sức
khoẻ của con người và thú vật, nhất là trẻ con dưới sáu tháng tạo nên Hội Chứng
Trẻ Xanh (Blue Baby Syndrome) có tên khoa học là methemoglobin huyết (Methe
moglobinemia). Nitrate khi xâm nhập vào cơ thể trẻ em được các vi khuẩn trong cơ
quan tiêu hóa hoán chuyển thành Nitrite và chất sau nầy hợp với Huyết Cầu Tố
(Hemoglobin) trong máu tạo thành Methemoglobin, do đó giảm thiểu lượng Huyết Cầu
Tố và khả năng chuyên chở Oxygen của chất nầy trong cơ thể. Do sự thiếu Oxygen
trong cơ thể, da đổi màu xanh do đó có tên là Hội Chứng Trẻ Xanh. Phương pháp chưng cất và kết tụ đòi hỏi độ năng lượng lớn lao và
hệ thống chưng cất quy mô, do đó khó áp dụng trong điều kiện của dân chúng Vùng
Châu Thổ. Phương pháp trao đổi
ion bằng Chlor hóa nước bị nhiễm và ion Chlor sẽ thay thế ion Nitrate trong
nước. Phương pháp nầy có ba lợi điểm là: vừa diệt vi khuẩn trong nước vừa thay
thế Nitrate và làm giảm thiểu lượng chất rắn hòa tan trong nước (TDS). Về tính
khã thi của phương pháp nầy, thiết nghỉ có thể thực hiện được, vì Chlor đã được
sản xuất trong nước và Chính Quyền có thể góp sức để thiết bị hệ thống đơn giản
để đem Chlor vào nguồn nước sinh hoạt. Trước hết, vị trí các nguồn nước uống (giếng, hồ, ao, suối...) phải ở trên
vùng cao, và ít nhất phải ở cách xa các chuồng nuôi súc vật củnh như các hố ủ
phân các xa khoảng 50 m. Bảo quản thật kỷ các bao phân hóa học và để cách xa nguồn nước. Nên lưu ý
chỉ một vài gram phân bón củng có thể làm ô nhiễm nước được. Giếng nước phải có thành cao hơn mặt đất để cho nước trên mặt đất không
tràn vào được. Các hố xí gia đình phải được bảo quản đúng tiêu chuẩn vệ sinh và phải xa
cách nguồn nước. Cần phải tổ chức việc giáo dục người dân miền Châu Thổ Sông Cửu Long về
các tai hại của thói quen đại tiện trên sông hay các hồ nuôi cá để tránh ô
nhiễm. Hướng dẩn cho người dân xử dụng đúng cách và đúng liều lượng thuốc trừ sâu
rầy, thuốc diệt cỏ dại, phân bón.... Cần nhấn mạnh rằng bón nhiều phân chưa
hẳn làm tăng năng suất thu hoạch mà có thể làm cho đất chứa thêm nhiều hóa
chất dư thừa, và các chất nầy xâm nhập vào nguồn nước sinh hoạt. Sau hết phổ biến đến người dân ý niệm thăm canh phải phối hợp với luân
canh vì đó là phương pháp tốt hơn để cải tạo đất và tăng năng suất thu hoạch
so với việc tăng thêm lượng phân bón. Với biện pháp giản
dị được đề nghị trên đây và với sự lưu tâm thực hành đúng của tất cả, hy vọng
nạn ô nhiễm Nitrate trong nguồn nước sinh hoạt sẻ được đề phòngcủng như giảm
thiểu và đạt đến tiêu chuẩnchấp nhận được.
The author, Mai Thanh Truyet Ph.D. is
currently: QA Manager at Weck Laboratories Inc., Industry, CA.
Laboratory Manager and Leachate Treatment Plant Manager at BKK
Laboratories, West Covina, CA.
Specialist in Toxic and Hazardous Waste Management and Air
Monitoring.
Cả thiên nhiên lẩn
con người là nguyên nhân tạo ra ô nhiễm nitrate với nhửng tính chất đặc biệt
như sau:
Các điều kiện thiên
nhiên từ trời mưa đến hiện tượng Oxid hóa các hợp chất hửu cơ trong thiên nhiên
hay các chất hửu cơ phế thải từ các sinh hoạt hằng ngày của con người. Trong mùa
mưa ở vùng nông thôn, nồng độ Nitrate có thể lên đến 80 mg/L.
Trẻ em dể bị
nhiễm Nitrate hơn người lớn. Ðối với trẻ em trên sáu tháng, bao tử bắt đầu
tiết ra Acid Chlorhydric do đó tiêu diệt được các vi khuẩn trong bao tử và chặn
đứng sự hoán chuyển Nitrate thành Nitrite. Số tử vong do hội chứng nầy tương đối
hiếm, nhưng các di hại lâu dài cho đến hôm nay vẩn còn trong vòng nghiên cứu.
Tuy nhiên một số trường hợp ung thư đường tiêu hóa đã được chứng minh là do sự
tiêm nhiễm Nitrate trong thời gian dài (Kross B.C. - Am. J. Public Health
83:270-272-1993).
Cơ quan Bảo Vệ Môi
Trường (USEPA) củng đã khuyến cáo dân chúng biết là hai nguồn nguy hại căn bản
trong nước sinh hoạt hàng ngày là Vi Khuẩn và Nitrate. Khi phụ nử mang thai dùng
nước chứa nhiều Nitrate, thai nhi sẽ bị ảnh hưởng. Một số phát hiện đã được kiểm
chứng như sau: hệ thống thần king của trẻ so sinh bị đảo lộn, mầm ung thư có từ
trong bào thai, tim bị tổn thương, sinh thiếu tháng và không đủ cân lượng.
Ðứng trước hiểm họa
Nitrate trên, với mật độ dân chúng trong vùng gấp đôi so với mật độ của cã nước
(385 người/Km2 và 209 người/Km2 theo thống kê năm 1992), với tỉ lệ sinh sản ở
mức 2.2% và với dư kiến tăng trưởng dân số đạt đến 18 triệu năm 2000 (theo thống
kê 1995, dân số trong vùng là 16.5 triệu), và đa số dân chúng trong vùng ở lứa
tuổi thiếu niên và thanh niên, nếu không có biện pháp phòng ngừa hay giảm thiểu
lượng Nitrate ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt hiện tại trước mắt....thì tương
lai sức khoẻ dân chúng Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng khá nặng nề. Tuy có khó khăn và
trở ngại trong việc suy tầm dử kiện và nghiên cứu ở Việt Nam, người viết xin
đóng góp vài ý kiến sau đây về vấn đề trên, ngỏ hầu dóng lên tiếng chuông báo
động đến đồng bào Vùng Châu Thổ Sông Cửu Long.
Các nước tiền tiến
như Mỷ, một số biện pháp xử lý Nitrate đã chứng tỏ rất hửu hiệu, nhưng chi phí
xử lý rất cao và đòi nhiều kỷ năng chuyên môn: đó là các phương pháp chưng cất,
trao đổi ion và thẩm thấu ngược (reverse osmosis)
Phương pháp xuyên
thẩm thấu đòi hỏi chuyển vận nước cần xử lý xuyên qua hệ thống áp suất và màng
thẩm thấu (đắt tiền và không tự sản xuất trong nước được), do đó chỉ liệt kê ra
đây với tính cách thông tin và tham khảo hơn là một phương pháp đề nghị để xử lý
Nitrate ở Việt Nam.
Gần đây nhất Bộ Năng
Lượng Mỷ (US Dept of Energy) có công bố một phương pháp mới và đang được áp dụng
ở Mỷ từ đầu năm 1996, đó là phương pháp dùng dầu thực vật để khử Nitrate !
Phương pháp nầy đặc biệt được dùng để khử Nitrate ô nhiểm trong các mạch nước
ngầm. Bôm dầu thực vật vào mặt đất chung quanh nguồn nước như giếng, ao, hồ,
suối.... Khi thẩm thấu sâu vào đất chung quanh và tùy theo điều kiện cấu tạo thổ
nhưởng, dầu sẽ tích tụ ở nhiều lớp khác nhau. Khi nước chứa Nitrate đi xuyên qua
lớp dầu trên, các vi sinh vật trong thiên nhiên sẽ hấp thụ Carbon trong dầu và
phát triển mạnh biến Nitrate thành khí Nitrogen, khí nầy sẽ được hấp thụ lại
trong nước. Và nước đã được khử Nitrate sẽ theo dòng chảy mà đi vào ao hồ
giếng...trở lại.
Với phương pháp nầy
ta có thể xử lý Nitrate từ nồng độ trên 800 mg/L xuống thấp hơn tiêu chuẩn cho
phép là 45 mg/L.
Phương pháp sau cùng
trên đây có vẽ khả thi hơn hết vì dầu thực vật là loại dầu ăn không độc hại tự
hủy trong lòng đất sau một thời gian, giá rẽ và được sản xuất ở khắp miền Nam.
Một điểm lợi khác của phương pháp nầy là một số ô nhiểm hửu cơ trong nước như
xăng dầu và một số chất dung môi dùng trong thuốc trừ sâu rầy, thuốc diệc cỏ dại
củng được hấp thụ theo.
Trên đây là bốn giải
pháp đề nghị về việc xử lý ô nhiễm Nitrate trong nguồn nước sinh hoạt. Tuy
nhiên phòng ngừa ô nhiễm hay giảm thiểu ô nhiễm vẩn là một phương pháp
tối ưu trước khi phải xử lý ô nhiễm.
Mặt khác các đề nghị
sau đây có tính cách thiết thực và nằm trong khả năng của mọi người dân ngỏ hầu
có thể bảo vệ chính mình và thế hệ tương lai của Việt Nam.
Orange, CA
10/97