VỰC DẬY TỪ TRO THAN ĐI QUA NHỮNG CÁNH ĐỒNG CHẾT

Gửi Nhóm “Sông Cửu Long”. 

“Les souffrances des peuples sont les souffrances des rois” _ Jayavarman VII 

NGÔ THẾ VINH  

TRỞ LẠI THĂM XỨ CHÙA THÁP

Hơn 30 năm sau trở lại thăm đất nước Cam Bốt vẫn là một thứ kinh nghiệm “độc nhất vô nhị. Năm 1970 là đi vào một đất nước Cam Bốt đang chìm đắm trong chiến tranh từ Việt Nam tràn sang. Thị trấn Krek không xa biên giới Việt Nam thường xuyên là mục tiêu của những trận mưa pháo và hỏa tiễn. Tiếp theo đó là những năm tháng kinh hoàng của chiến dịch “cáp duồn” người Việt dưới chính quyền Lon Nol, rồi là những năm “tẩy sạch chủng tộc” của Pol Pot.

Năm 2001 trở lại một đất nước đã trải qua những năm tháng ác mộng của mênh mông những Cánh Đồng Chết mà tưởng như mới hôm qua. Một đất nước với nền hòa bình còn non trẻ và mìn bẫy thì đầy rẫy sau những năm nội chiến đẫm máu. Nhưng Cam Bốt đang vực dậy từ tro than và hướng về tương lai.

Đối với du khách thì Cam Bốt nay thực sự trở lại với bản đồ Đông Nam Á do sự kỳ vĩ của các khu đền đài Angkor, một tụ điểm du lịch mà có lẽ không một nước Á Châu láng giềng nào có thể sánh bằng.

Lại thêm triển vọng từ 2002 mở ra một cuộc du lịch đầu tiên bằng thuyền hovercraft [ACV / Air Cushion Vehicle] 14 ngày khởi hành từ giang cảng Tư Mao / Simao tỉnh Vân Nam xuống Cảnh Hồng qua khu Tam Giác Vàng [Miến Điện, Thái, Lào] xuống tới Luang Prabang – Vạn Tượng – Pakse vòng qua thác Khone xuống Cam Bốt – lên Biển Hồ tới Siem Reap – Angkor trở lại Nam Vang trước khi xuống Đồng Bằng Sông Cửu Long Việt Nam và bến đỗ sẽ là cảng Cần Thơ. Tuy chưa phải là cuộc hành trình trên suốt dọc con sông Mekong qua 7 quốc gia do không có một khúc sông lưu thông được qua các hẻm núi từ Tây Tạng xuống Vân Nam nhưng đây vẫn sẽ là một cuộc du lịch sinh thái / Ecotour 2,900 km đường sông qua 6 nước vô cùng hấp dẫn: du khách còn hy vọng được thấy những con cá Pla Beuk và Irrawady Dolphin cuối cùng còn sống sót trên sông Mekong trước khi trở thành những hình ảnh của quá khứ. Nhưng đó là chuyện của tương lai năm 2002.

Bây giờ là tháng 12 của năm đầu thế kỷ 21. Không với tính cách du lịch mà là một Fieldtrip tới với một khúc đoạn khác của con sông Mekong, khúc sông đã từng loang máu và nổi trôi những chùm xác không đầu của người Việt. “ Cáp Duồn” luôn luôn như một mối ám ảnh. Người Việt người Khmer nói chung vẫn có cách nhìn mang dấu ấn tiêu cực về nhau bắt nguồn từ mối thù hận lịch sử.

Cao Xuân Huy tác giả Tháng Ba Gẫy Súng nói với tôi: _ Anh không sợ bị Cáp Duồn à? Người Lào dầu sao cũng hiền lành hơn người Miên. Huy muốn so sánh với chuyến đi Lào suông sẻ của tôi và chuyến đi Cam Bốt sắp tới. Hoàng Khởi Phong Người Trăm Năm Cũ cũng đưa ra một ý kiến không thuận lợi: _ Cuốn sách xong rồi anh còn đi Cam Bốt làm gì, anh vẫn còn thời gian để thay đổi ý kiến. Tuy không phải là một lời can ngăn nhưng chắc chắn đó không phải là một phát biểu đồng tình. Anh Đỗ Hải Minh / Dohamide người bạn Chăm lâu năm của báo Bách Khoa [trước 1975] có lời khuyên tôi chưa nên đi ở một thởi điểm còn quá gần biến cố 911 – nhất là khi tôi tỏ ý định đi thăm cộng đồng người Chăm Islam gần 500,000 người trong số 11 triệu dân Khmer theo Đạo Phật. Mấy người bạn Mỹ nơi bệnh viện tôi làm việc, có người gốc Green Beret từng qua Cam Bốt, cũng ngạc nhiên về “nơi đến nghỉ hè” của tôi. Thêm một thay đổi bất ngờ nữa là người bạn đồng hành Nguyễn Kỳ Hùng, vào giờ chót phải hủy bỏ chuyến đi theo dự kiến vì một dự án cuối năm của hãng Điện toán Gateway mà anh là kỹ sư kế hoạch phải ở lại để hoàn tất. Anh là một phóng viên nhiếp ảnh trẻ tài hoa đã cùng đi với tôi trong chuyến về thăm Đồng Bằng Sông Cửu Long cách đây 2 năm.

Là một phóng viên cho dù không ra chiến trường nhưng cũng có những mặt trận khác. Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới cho biết trong năm 2001 đã có 31 nhà báo thiệt mạng trong khi hành nghề, tương đương với con số của năm 2000, đó là chưa kể số ký giả bị cầm giữ. Ý thức những bất trắc chứ không phải chối bỏ nhưng nếu có gặp trắc trở thì cũng là chuyện đương nhiên của nghề nghiệp phải vượt qua và tận cùng xa hơn nữa, ở một thời điểm nào đó_ là cái chết, có ích hay không, vẫn là điều mà mỗi chúng ta phải đối diện hàng ngày, như điểm hẹn cuối của mọi cuộc hành trình.

Đến với con sông Mekong với tôi đã như một tiếng gọi quyến _ như một cuộc trở về, để tìm tới với Biển Hồ, con sông Tonlé Sap cùng với khúc đoạn khác của con sông Mekong. Điều mà thế hệ sắp tới có thể sẽ không còn cơ hội để thấy được sinh cảnh phong phú nhưng quá mong manh của một dòng sông sẽ trở thành “con sông của quá khứ”. 

VÀI HÀNG TIN MỚI TRƯỚC CHUYẾN ĐI

Cam Bốt vừa được Tổng thống Bush lọc ra khỏi danh sách những nước được coi là vận chuyển ma túy lớn nhất trên thế giới. Vẫn còn 23 nước có tên trong sổ đen của Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy Mỹ trong đó có Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào và dĩ nhiên có cả Việt Nam.

Cam Bốt đang có kế hoạch cho giải ngũ khá tốn kém cho khoảng trên 30,000 quân nhân [bao gồm cả sĩ quan và hàng tướng lãnh] trước cuối năm 2002, trả họ về đời sống dân sự. Kế hoạch chủ yếu được tài trợ bởi Ngân Hàng Thế Giới, với hy vọng giảm thiểu số lượng súng đạn đang còn tràn ngập trên đất nước Cam Bốt tạo thuận cho hòa bình, “cải thiện nhân quyền” đồng thời tiết kiệm được 10 triệu đôla mỗi năm để dùng cho các kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế. Nhưng tham nhũng vẫn là trở ngại lớn nhất trong việc sử dụng số tiền 42 triệu tài trợ ấy.

Thủ tướng Hunsen vừa ban hành sắc lệnh đóng cửa tất cả các phòng trà ca nhạc karaoke trên toàn quốc với lý do tệ nạn xã hội: tội ác bạo động, đĩ điếm lan tràn, dịch HIV phát triển ở các tỉnh miền quê do các cô gái karaoke trở về gieo rắc. Các tổ chức du lịch thì lại coi đây như đòn giáng khác sau biến cố 911 vì số lượng du khách đã giảm tới 20% chủ yếu thành phần Âu Châu và Bắc Mỹ, chỉ còn trông vào khách Á Châu lại rất thích giải trí trong các hộp đêm.

Trùng hợp với chuyến viếng thăm Cam Bốt của Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam Trần Đức Lương, đã xảy ra 2 vụ cháy lớn tại các khu xóm nhà lá ở Nam Vang mà cư dân phần đông là người gốc Việt. Hai khu này vốn nằm trong kế hoạch giải tỏa của chính quyền Nam Vang. Trong khi mối bang giao giữa Việt NamCam Bốt ngày một thêm căng thẳng vì tranh chấp biên giới như một vấn đề tồn tại của lịch sử. Chánh quyền và cả không ít người Cam Bốt vẫn coi Đồng bằng Sông Cửu Long với hàng triệu người Việt gốc Khmer cư ngụ vốn thuộc Cam Bốt mà người Việt mới xâm chiếm bằng cuộc Nam Tiến từ mấy thế kỷ sau này.  

ĐƯỜNG VÀO SIEM REAP

Trong cuộc chiến giữa Thái và Pháp (1941), Nhật đã ép Pháp phải cắt một phần đất của Cam Bốt nhượng cho Thái. Nhưng sau khi Nhật thất trận (1946), Thái phải trả lại đất. Có lẽ vì vậy mà có tên Xiem Reap có nghĩa là “Xiêm bại trận”. Là một tỉnh nhỏ đồng quê nằm phía tây bắc Biển Hồ, cảnh trí xanh tươi với những bóng dừa, cây cau, cây me và đủ các loại cây trái nhiệt đới_ giống như ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Nguyên là vị trí trọng yếu với các ngọn đồi chiến lược, các vua Khmer đã dựng nên khu đền đài Angkor như kinh đô từ thế kỷ thứ 9 tới thế kỷ 13, nơi đây cũng đã từng là bãi chiến trường trong suốt những năm nội chiến của mấy thập niên qua.

Thời kỳ “sau Khmer Đỏ”, Siem Reap là một thị trấn đang thức dậy vì là điểm hẹn xuất phát cho những đoàn du khách tới thăm kỳ quan Angkor _ nhất là từ khi có đường bay trực tiếp đổ du khách ngoại quốc từ Bangkok vào Siem Reap mà không cần vòng qua ngả Nam Vang. Những chuyến bay tới Nam Vang thì ngày càng trống trải, du khách thì đổ dồn về Siem Reap, nhà khách phi trường quá tải và đang được các đội xây cất mở rộng.

Các khách sạn tiện nghi kể cả Sofitel 5 sao mau chóng mọc lên bao gồm cả sân golf, phải kể cả dự án đầy tham vọng của các doanh nhân Mã Lai lập các màn Shows “âm thanh và ánh sáng” kỳ vĩ ngay trên khu đền đài Angkor Wat nhưng kế hoạch có bị chậm lại do cuộc khủng khoảng kinh tế Á Châu vừa qua.

Dấu mốc 911 cũng thay đổi thành phần du khách: thưa thớt đến từ Bắc Mỹ và Âu Châu, đa số là du khách tới từ các nước Á Châu: Nhật Bản, Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc...

Chỉ cần giấy thông hành khi tới – Visas on arrival. Đội cảnh sát phi cảng Siem Reap có vẻ chuyên nghiệp làm việc lối dây chuyền: những người đàn ông Khmer vạm vỡ da sậm đen tóc quăn y phục thẳng nếpï. Cho dù với thông hành Mỹ, tôi vẫn được giữ lại khá lâu với người đại úy trưởng toán với cặp mắt thật sáng nhưng lạnh. Khi trao lại sổ thông hành cho tôi, rất nhiều ngụ ý anh nói với tôi bằng tiếng Việt rất ngắn gọn hai tiếng Cám Ơn. Và tôi hiểu rằng những ngày trên xứ Chùa Tháp với giấy tờ tùy thân gì đi nữa thì tôi vẫn thực sự mang căn cước một Người Việt. Tôi đang tìm tới với cộng đồng người Khmer, cộng đồng người Chăm mang theo cả gánh nặng quá khứ của gần ba thế kỷ. Liệu đến bao giờ thì mới sạch được món nợ lịch sử này.  

ĐẾN VỚI ĐẾ THIÊN ĐẾ THÍCH:

Để thăm hết các khu đền đài phế tích Angkor trải rộng trên một chu vi 35 Km, có lẽ du khách phải cần ít nhất từ 3 ngày tới 1 tuần lễ. Vì không phải là một cuộc du lịch tới Angkor, tôi chỉ có một ngày để đến thăm một nền văn minh rực rỡ nhưng đã suy tàn của con sông Mekong.

Năm 1943, chàng thanh niên 31 tuổi Nguyễn Hiến Lê trong dịp đi công tác cho Sở Công Chánh ở Siem Reap, đã có dịp đi thăm Đế Thiên Đế Thích và ông đã viết một du ký ngắn về chuyến đi này.

Hơn nửa thế kỷ sau ông, tôi đến với Angkor, đến với những khối đá khổng lồ và vô tri của Angkor nhưng được kết hợp thành một tổng thể kiến trúc hài hòa lại được tô điểm bởi vô số những tác phẩm điêu khắc hết sức tinh vi. Toàn cảnh thì đây là công trình đại của các kiến trúc sư bậc thầy, của một đội ngũ điêu khắc gia tài hoa và rất giỏi về cơ thể học. Bao nhiêu bút mực để vinh danh Michelangelo thời Phục Sinh của phương Tây nhưng du khách đến với Đế Thiên Đế Thích chỉ biết âm thầm ngưỡng mộ những nghệ sĩ lớn khuyết danh và không thể không tự hỏi họ từ đâu tới và hồn họ ở đâu bây giờ. Tác phẩm của họ hoàn tất trước Michelangelo ít nhất là hàng 5 thế kỷ.

Bình minh trên Angkor Wat là một cảnh quan tuyệt đẹp, một khúc giao hưởng tĩnh lặng kết hợp giữa thiên nhiên và kỳ tích của con người. Năm ngọn tháp vươn lên trên một nền trời từ màu xám đang dần ửng đỏ. Mặt trời lên, hàng cây thốt nốt cao đứng soi bóng như nhân chứng của ngàn năm [Cây thốt nốt vẫn được coi là biểu tượng của đất nước cam Bốt]. Sương đêm còn đọng long lanh trên những tàu lá súng bông súng trên mặt hồ. Bước lên những bực thang, đi vào khu đền đài với hàng ngàn thước đá chạm trổ như một pho sử đá cảnh trần gian, vươn lên là các tượng đá hùng vĩ uy nghi gây cảm giác choáng ngợp, để tưởng như thời gian ngưng lại cho phút trầm tư về nỗi phù du của các triều đại và kiếp người. Hướng lên những tượng Phật với ánh mắt từ bi và nụ cười bí ẩn mà thanh thoát _ với nụ cười La Joconde, cô chỉ là một phó bản mờ nhạt không sao sánh được.

Bây giờ là bình minh của trời đất nhưng lại là hoàng hôn của một nền văn minh. Không, hoàng hôn của hai nền văn minh: Angkor-Khmer và Champa. Gặp gỡ những người Khmer bây giờ, người ta cũng không tránh được cảm nghĩ của Henri Mouhot_ người tái phát hiện đền đài Angkor cách đây hơn một thế kỷ, và cách đây một năm tôi đã ngồi bên ngôi mộ ông trên bờ sông hoang vắng của con sông Nam Khan một phụ lưu của con sông Mekong trên Thượng Lào, rằng khó mà tin họ có cùng dòng dõi và có liên hệ gì tới thế hệ đã qua xây dựng nên kỳ quan Angkor.

Cảm giác thật kỳ lạ vương vất khó tả khi chứng kiến đám bà sơ ngồi trên bệ đá cao của một khu thư viện hoang phế, hướng về phía mặt trời mọc cùng hát bản thánh ca hồn nhiên vô tư với thanh âm thoảng xa trong gió và trong nắng mai.  

TỪ LÀNG NỔI VIỆT NAM:

Từ Siem Reap bằng thuyền máy về hướng nam ra tới khu Chong Khneas hay còn được gọi là Khu Làng Nổi Người Việt phía tây bắc Biển Hồ, với sinh cảnh thật phong phú của đám cư dân sống trên sông nước.

Nguồn tài nguyên giàu có của Biển hồ đã thu hút đủ sắc dân từ các nơi đổ tới và hình thành những khu làng nổi trong vùng rừng lũ và trên Biển Hồ. Nếp sống ấy hầu như ít thay đổi từ hàng trăm năm nay. Họ chủ ý sống bằng nghề chài lưới và cá vẫn là nguồn lợi tức chính, ngoài cá lưới được từ Biển Hồ còn phải kể tới nghề nuôi cá lồng, trại nuôi cá sấu, nuôi rắn, nuôi vịt, đốn củi, săn chim thú và cả vớt các loài rong tảo.

Tới với khu làng nổi là tới với vẻ đẹp của một sinh cảnh thiên nhiên đồng lầy còn hoang dã. Những khu làng nổi này cũng di chuyển theo mùa, theo mực nước lên xuống. Bình minh hay hoàng hôn trên khu làng nổi là một trong những cảnh quan tuyệt đẹp của Biển Hồ.  

TỚI TRÀM CHIM VÙNG SINH THÁI PREK TOAL

Từ Chong Khneas, khoảng hai tiếng đồng hồ bằng thuyền máy chạy băng băng trên mặt Biển Hồ gió mạnh sóng khá lớn trên trời mây vần vũ có cảm tưởng như đang trên mặt biển. Từng đợt nước hắt vào trong ghe, người ướt thì không kể gì nhưng phải bảo vệ chiếc máy hình Canon_ không waterproof đã một lần bị ướt ống kính khi tôi đang nhắm chụp hình một chú chim lạ chắc là mỏi cánh tạm ghé đỗ trên một cụm lục bình trổ bông tím đang nổi trôi giữa biển nước chẳng thấy đâu là bờ.

Băng qua Biển Hồ đi về hướng nam để tới được Prek Toal thuộc tỉnh Battambang, là khu làng nổi khác của người Khmer, nơi đây có đặt văn phòng Sở Bảo Tồn Biển Hồ / Environmental Research Station For Tonle Sap Biosphere Reserve.

Vùng Sinh Thái Prek Toal với Tràm Chim là một trong 3 khu sinh thái của Biển Hồ. Đây là nơi tụ hội đông đảo của một số loài chim hiếm quý. Từ xa trên Biển Hồ, đã thấy bay lượn những đàn chim nước lớn nhỏ đủ loại.

Như một hiện tượng thiên nhiên kỳ diệu, diện tích Biển Hồ co dãn theo mùa. Là hồ cạn với diện tích 2,500 km2 mùa khô, tới mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 tháng 7, do nước con sông Mekong dâng cao, tạo sức ép khiến con sông Tonlé Sap phải đổi chiều, chảy ngược vào Biển Hồ, khiến nước hồ dâng cao từ 8 tới 10m và tràn bờ làm tăng diện tích Biển Hồ lớn gấp 5 lần khoảng hơn 12, 000 Km2. Chính con sông Mekong và Biển Hồ đã từng là cái nôi của nền văn minh Angkor.

Do một sắc lệnh của Hoàng gia Cam Bốt từ tháng 11/93 quy định Biển Hồ Tonlé Sap là Khu Đa Dụng Bảo Tồn (Multiple Use Protected Area). Tiếp sau đó qua bao vận động của Sihanouk, mãi tới tháng 10 năm 1997 Biển Hồ mới được UNESCO công nhận là Khu Bảo Tồn Sinh Thái / Biosphere Reserve.

Để quản lý Khu Bảo Tồn Sinh Thái, Biển Hồ được chia ra làm 3 khu: khu trung tâm (core), khu đệm (buffer zones), và khu chuyển tiếp (transition zones). Mục đích lâu dài là bảo vệ các khu trung tâm để tương lai sẽ trở thành công viên quốc gia.

Ba khu trung tâm của Biển Hồ có giá trị bảo tồn rất cao là:

_ Prek Toal rộng 31, 282 ha

_ Boeng Tonle Chhmar hay Moat Khla rộng 32, 969 ha

_ Stung Sen 6, 586 ha

Với hệ sinh thái hết sức đa dạng bao gồm những con suối, những hồ, các cánh đồng , các loại thảo mộc đất sũng. Tất cả kết hợp tạo thành một hệ thủy học duy nhất của Biển Hồ, nuôi dưỡng một quần thể sinh học phong phú bao gồm vô số loại cá, các loại chim nước, các loài bò sát, loài lưỡng cư / amphibians, các động vật có vú, các rong tảo và vi sinh vật. Trong những tháng lũ, gần 2/3 diện tích những cánh đồng lũ của Biển Hồ bao phủ bởi quần thể các loại cây sống dưới nước, gồm hơn 190 chủng loại.

Rừng lũ đóng một vai trò sinh tử để nuôi dưỡng và tái sinh các nguồn sinh vật – có tác dụng cộng sinh / symbiosis hỗ tương như một chuỗi thực phẩm khổng lồ .

Riêng về cá, có tới hơn 200 loại cá trong Biển Hồ trong đó bao gồm hơn 70 loại có giá trị dinh dưỡng và thương mại lớn. Cá đánh được chỉ riêng ở Biển Hồ đã chiếm tới hơn 60% tổng số cá nước ngọt của Cam Bốt.

Mối e ngại hiện nay là số lượng cá ngày một sút giảm, số cá lớn cũng ngày một ít đi. Riêng về các loài chim, do nguồn thức ăn vô cùng phong phú, cộng thêm với sinh cảnh đồng lầy và rừng lũ rất biến thiên , tạo nên vùng cư trú lý tưởng cho vô số loài chim nước. Khảo sát khởi cho thấy có hàng trăm loại chim trong số đó có 12 loại được coi là hiếm quý đối với thế giới.

Rừng lũ Biển Hồ còn là sinh cảnh cho các loại bò sát, có vú: 23 loại rắn, 13 loại rùa, 1 loại cá sấu, vượn, khỉ, mèo báo, rái cá ...

Tính đa dạng và biến thiên trong Biển Hồ cho tới nay chưa hoàn toàn được biết rõ nếu không muốn nói là thiếu sót.

Cần có ngay một kế hoạch quy mô nghiên cứu, ghi nhận và theo dõi các loài cá, chim, cây cỏ và rong tảo, phẩm chất biến thiên của nước và toàn cảnh hệ sinh thái nói chung.

Bởi vì với tốc độ khai thác quá mức như hiện nay, một số chủng loại hiếm quý có khi đã bị tiêu diệt trước khi được biết tới, giống như tình trạng ở thác Khone Nam Lào.  

Bây giờ là giữa tháng 12, mực nước xuống thấp tới 1/3 thân cây mộc. Những búi rác khô vướng trên cành cao cho thấy mực nước đỉnh cách đây 3 tháng phải cao tới hơn 3 mét. Giữa các chòm cây, không có lấy một đường nước quang đãng phía trước. Chỉ thấy nhấp nhô trên mặt nước là các bụi cây thấp, có lẽ với một chiếc ghe tam bản nhỏ là thích hợp để di chuyển trong rừng . Nhưng chiếc ghe thuê hiện giờ lại là thuyền máy khá lớn để đi trên Biển Hồ. Chỉ có tôi là Việt Nam, với ba người Khmer trên một chiếc ghe giữa mênh mông khu rừng lũ. Cứ chạy được một đoạn, chiếc ghe khựng lại do cánh quạt bị quấn đầy những dây nhợ và các bụi cây nhỏ. Mỗi lần như vậy thì tài công và người phụ máy lại phải nhảy xuống nước bì bõm loay hoay tháo gỡ. Họ có vẻ bực bội lớn tiếng như gây gổ nhau và nét mặt hiện vẻ hung dữ. Trong khi người hướng dẫn mới lên ghe từ trạm bảo tồn, vẻ mặt khắc khổ da sạm đen, thì vẫn cứ ngồi yên nơi mũi ghe lắc đầu có vẻ mất kiên nhẫn. Giữa rừng lũ không phương hướng, dưới bầu trời nắng gắt là những cánh chim bay lượn, tiếp tục đi tới hay quay trở về không biết quyết định nào là đúng; và tôi cũng không thiếu tưởng tượng để một thoáng nghĩ rằng nếu có chuyện gì xảy ra ở một nơi xa xôi hẻo lánh một thứ no man’s land như nơi đây thì tôi cũng ở một thế rất bị động; nhưng tôi cũng hiểu rằng bản năng con người ta thì bao giờ cũng như một con thú đang im ngủ, mọi tỏ lộ nét lo âu sợ hãi chỉ có tác dụng đánh thức thú tính  và tôi đã chọn thái độ thản nhiên và gần như phó mặc. Nhưng rồi cuối cùng thì chiếc ghe máy cũng tới được trạm trung tâm Tràm Chim.  

Do có điện đàm trước từ văn phòng khu bảo tồn, Meas Rithy một thanh niên trẻ có ý chờ đón tôi từ khi nãy. Anh không nghĩ là với thuyền máy lại có thể đi chậm đến như vậy. Meas tốt nghiệp BS về Lâm Nghiệp / Forestry Đại học Hoàng gia Phnom Penh, từ ngày ra trường được bổ nhiệm làm Trưởng Trạm Prek Toal – Tonlé Sap Biosphere Reserve. Vì thường xuyên tiếp xúc làm việc với các viên chức UNESCO, Meas nói tiếng Anh lưu loát. Cũng do quen tiếp đón các đoàn khách, kể cả khách du lịch, Meas cũng dành cho tôi một briefing vừa đủ và ngắn gọn để hiểu hơn về tràm chim nói riêng và khu bảo tổn Prek Toal nói chung. Do tôi cũng có làm Home Work trước chuyến đi nên những điều anh nói ra chỉ giúp hệ thống hóa những thông tin mà tôi có được và quan trọng hơn là sau đó Meas giúp tôi một chuyến quan sát thực địa có hướng dẫn.

Bước đầu như một thách đố, Meas chỉ cho tôi một cái chòi buộc cheo leo trên ngọn cây cao như trạm quan sát. Phải leo lên bằng nhiều bực thang dây đu đưa. Với những năm lính tráng và rồi mấy năm tù đầy, thì đây cũng chẳng gọi là một thử thách. Tôi thoăn thoắt leo lên trước anh ta. Chòi nhỏ chỉ đủ treo 1 chiếc võng và sàn đứng là những thân cây xếp ngang buộc bằng dây trạo. Có lẽ đây là điểm cao nhất để có cái nhìn một phần toàn cảnh tràm chim. Từ đây bằng ống nhòm có thể nhìn ra từng lùm cây xa, với vô số chim lớn nhỏ đậu từng chùm trên đó. Chúng gồm nhiều chủng loại, nhưng chung sống hòa bình  Meas thích thú nói với tôi như vậy. Chúng sống chung cùng làm tổ và đẻ trứng chi chít trên đó. Meas giảng cho tôi đặc tính của một số loài chim. Meas nói thêm, thời gian lý tưởng để thăm tràm chim là từ tháng Giêng đến tháng Ba cũng là mùa nước cạn, rừng lũ trở thành vùng đất bùn với rất nhiều vũng và các hồ cạn với ê hề tôm cá, cũng là thời gian để các loài chim muông tụ về đây nhiều vô kể  sinh cảnh ấy chắc phải vượt xa cuốn phim kinh dị về chim của Hitchcock. Như một kỳ quan môi sinh Ecological wonder.

Không ăn sáng mà cũng chưa có ăn trưa. Tôi được anh tài công chia cho nửa hộp cơm trắng với một khúc lạp xưởng rất nhiều mỡ. Bụng đói nên ngon miệng với từng miếng cơm thật ngọt.

Sau đó tôi và Meas bước xuống chiếc xuồng tam bản nhỏ với một người chèo để tới gần hơn với từng vòm cây và đám chim muông trên ấy. Con thuyền nhỏ lướt nhẹ trên mặt nước giữa vẻ đẹp hoang sơ và trinh nguyên của khu rừng . Ghe dừng lại từng chặng để tôi có thể quan sát gần từng loại chim khác nhau trong số đó có chủng loại được coi là hiếm quý cần được bảo vệ như: Spot-billed Pelican (chim bồ nông mỏ đốm), Oriental Darter (bồ nông cổ rằn Đông phương), Lesser Adjutant, Greater Adjutant, Black Necked Stork (sếu cổ đen), Painted Stork (sếu vằn), Milky Stork (sếu sữa), Glossy Ibis (cò quăm), Grey-headed Fish Eagle (chim ưng đầu xám)...

Tôi cũng được biết từ buổi sáng sớm cùng ngày đã có mấy nhà điểu học người Pháp đi bằng thuyền nhỏ ra các vòng xa hơn để chụp hình và quay phim một loại vịt trời cánh trắng / White-winged Duck.

Trên vòng về, tôi được biết thêm về cuộc sống Meas. Lương 15 đôla một tháng không đủ sống vẫn còn phụ thuộc bố mẹ nhưng anh vẫn say mê công việc đang làm là bảo vệ rừng lũ và đám chim muông. Anh không hay biết gì về chuỗi những con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam và cả tình huống nếu mực nước Biển Hồ xuống thấp 1 mét thì hậu quả tức thời là sẽ mất đi 2.000 km2 diện tích rừng lũ_ dĩ nhiên có Khu Bảo Tồn Prek Toal.

Meas không có được tầm nhìn xa hơn tràm chim của anh và chỉ ôm ấp một giấc mộng con, mong ước sao có được mối quen biết – mà anh gọi là connections, để có cơ hội đi học thêm nhất là ở Mỹ. Trước khi rời làng Prek Toal Battambang để trở về Siem Reap, chia tay anh, tôi không quên phần đóng góp tượng trưng 20 Mỹ Kim như một hỗ trợ duy trì sinh hoạt Khu Bảo Tồn.  

JAYAVARMAN VII SIEM REAP

Thời gian còn lại ở Siem Reap, tôi tới thăm bệnh viện Jayavarman VII, là bệnh viện nhi đồng được Sihanouk và Hunsen cắt băng khánh thành năm 1999. Đây là bệnh viện thứ ba, hai bệnh viện kia là Kantha Bopha I và II ở Nam Vang. Beat Richner, giám đốc cả 3 bệnh viện không chỉ là một bác sĩ Nhi khoa, ông còn là nhạc sĩ cello chơi nhạc Bach có hạng. Người sáng lập và đang điều hành cả ba nhà thương Nhi Đồng và là một khuôn mặt huyền thoại.

Gốc Thụy Sĩ, từng là bác sĩ điều trị trong một bệnh viện Nhi Đồng ở Nam Vang từ 1974/75 cho tới khi Khmer Đỏ tiến chiếm thủ đô. Năm 1991, Richner được Sihanouk yêu cầu giúp phục hồi bệnh viện Nhi Đồng này. Năm 1992, bệnh viện Kantha Bopha bắt đầu hoạt động. Năm 1996, thêm một bệnh viện Kantha Bopha II được khánh thành cũng ở Nam Vang. Ba năm sau khánh thành thêm một bệnh viện ở Siem Reap-Angkor: bệnh viện Jayavarman VII , với cái tên chọn đặt bao hàm một nội dung lịch sử.  

Jayavarman là tên vị vua anh hùng cuối cùng của triều đại Khmer-Angkor thế kỷ 12, có công mở mang bờ cõi vương quốc rộng lớn nhất, không chỉ xây dựng các khu đền đài kỳ vĩ nổi tiếng như Bayon, ông còn quan tâm tới các công trình công ích như mở mang đường sá, xây cất rất nhiều dưỡng đường và các bệnh viện.  

Mọi điều trị trong bệnh viện Jayavarman VII rất tiêu chuẩn, tất cả đều miễn phí cho mọi trẻ em nghèo Cam Bốt. Bệnh viện còn là nơi giảng dạy và thực tập cho sinh viên y khoa và các nội trú. Để điều hành ba bệnh viện, mỗi năm cần tới 9 triệu đôla do tặng dữ của tư nhân chủ yếu từ dân chúng Thụy Sĩ. Bác sĩ Richner cứ 3 ngày ở Nam Vang, 3 ngày cuối tuần ở Siem Reap. Cho dù vô cùng bận rộn nhưng mỗi tối ngày thứ Bảy bao giờ cũng có một buổi hòa nhạc Bach ở bệnh viện. “Beatocello in Concert” do chính bác sĩ Richner trình diễn để gây quỹ nhưng vào cửa thì tự do. Tới tham dự phần đông là du khách ngoại quốc đang tới viếng thăm khu đền đài Angkor.

Giữa một thị trấn nhỏ, không xa Đế Thiên Đế Thích, trong khí hậu của lục địa Á Châu Gió Mùa, cảm giác thật kỳ lạ khi thả mình trong dòng nhạc J.S.Bach qua tiếng đàn cello của người bác sĩ nhi khoa tên Richner để thấy rằng không còn giới hạn Đông và Tây như Kipling thường nói, bây giờ thì con sông Mekong như đã hòa lẫn vào dòng sông Danube. Người thầy thuốc nghệ sĩ ấy đã đưa nhạc Bach đầy tiết tấu và trí tuệ vào các khu đền đài của Châu Á. “Bach At The Pagoda” với những nốt nhạc còn vang xa, vươn xa tới cả Những Cánh Đồng Chết để xoa dịu vỗ về và là nguồn an ủi.

Rời bệnh viện Siem Reap sạch sẽ khang trang và ngăn nắp, với hình ảnh những bà mẹ Khmer tin tưởng ôm con từ ngoài cửa đi vào, cùng một lúc hừng lên trong nắng mai trên cao nơi mái ngói đỏ là tượng Jayavarman VII hao giống đầu tượng Phật, với cạnh đó là một câu trích dẫn có lẽ do chính Richner chọn, với ẩn dụ đầy ý nghĩa: Les souffrances des peuples sont les souffrances des rois.  Nỗi thống khổ của thần dân cũng chính là nỗi đau của đấng quân vương Jayavarman VII. Vua Sihanouk của một thời sắp qua, “Vua Hunsen” của thời đại mới có cảm nhận được niềm đau nào không của những người Khmer sống sót đi ra từ Những Cánh Đồng Chết.

Richner gợi nhớ về hình ảnh một Schweitzer chăm sóc những người cùi ở Lambaréné Phi Châu và cũng là một nhạc sĩ nhưng trước Richner hơn nửa thế kỷ.  

Phần ngày còn lại, tôi cũng tới thăm Trại Nuôi Cá Sấu cách trung tâm thị trấn 2 Km. Trại nuôi cá sấu thì đâu có gì lạ nhưng do chuyện kể kinh hoàng không thể tin là có thật, thời Pol Pot lính Khmer Đỏ đã ném các nạn nhân còn sống xuống hồ cho đàn cá sấu xúm vào ăn thịt. Bây giờ trại chủ yếu nuôi sấu bán sang Thái Lan với giá 2,000 đôla/con để lấy da. Cảnh cá sấu ăn thịt người thì không thấy nhưng chỉ riêng cảnh cho cá sấu ăn bình thường hàng tuần mỗi thứ sáu cũng đã khiến cho người xem phải lên ruột. 

NAM VANG: CÂU LẠC BỘ KÝ GIẢ NGOẠI QUỐC:

FCCC / Foreign Correspondents’ Club of Cambodia, rất quen thuộc với các nhà báo trong những năm chiến tranh, nằm trên đường bờ sông Preah Sisovath, là một khu nhà lầu 3 tầng kiến trúc từ thời Pháp, có buồng với balcon nhìn xuống con sông Tonlé Sap, có tiện nghi tối thiểu, máy lạnh TV điện thoại và nhà tắm nước nóng. Nơi cho các nhà báo ngoại quốc tạm ghé qua và có dịp gặp gỡ nhau.

Cho dù 3 ngày trước đó từ Siem Reap đã điện thoại giữ chỗ trước và được hứa hẹn có xe ra đón tại phi trường, nhưng rồi đã không có xe đón, phải thuê taxi về Câu Lạc Bộ và rốt cuộc cũng không có buồng trống.

Không quá giàu tưởng tượng, nhưng tôi hiểu rằng Nam Vang không phải là một nơi 100% an toàn đối với khách ngoại quốc. Chọn leo lên lưng một chiếc Honda ôm hay bước vào một chiếc taxi-chui không bảng hiệu là không biết được đưa về đâu. Bởi vì cướp có vũ trang vẫn thường xảy ra. Cũng đã có lời khuyên cho du khách là ở tình huống nào thì cũng không bao giờ nên chống cự, chỉ nên giơ tay đầu hàng để bọn cướp lấy gì thì lấy, chủ yếu là tiền và đồ trang sức có giá. Thẻ tín dụng hay passport thường được ném trả lại sau đó. Cũng có lời đồn đãi rằng chính một số cảnh sát Cam Bốt đã tham dự vào đám tội phạm ấy.

Trước cửa FCCC lúc này là đám lái xe ôm và cả taxi-chui, hỗn hào tranh giành khách như một bầy kên kên: tên giành máy hình, tên khác kéo túi hành lý với nhao nhao những câu hỏi như chỉ để đánh giá con mồi: You are Chinese, you are Thai, you are Japanese? Muốn hiểu sao thì hiểu, nhưng quả thật thiếu khôn ngoan để cho bọn chúng biết mình là người Việt hay người Mỹ gốc Việt. Thấy bên cạnh FCCC là quán Café Internet, tôi trả lời là đang cần vào Internet và đã có phòng khách sạn. Vấn đề là làm sao thoát được bọn chúng cái đã, để từ đây có thể mượn phone liên lạc với người tài xế Taxi vừa đón tôi từ phi trường Pochentong về. Với một chiếc taxi có bảng hiệu đăng ký, tài xế có tên và số hand phone lại biết chút tiếng Anh, thì cũng là một chọn lựa tương đối an toàn.

Sok Thon, tên người tài xế, qua điện thoại anh ta nhận ra tôi ngay, đáp ngắn gọn: No Problem và hứa trở lại đón tôi thay vì ra phi trường. Thở phào nhẹ nhõm, tạm quên đi cái nóng bức và hỗn độn bên ngoài cánh cửa kính để vừa thưởng thức ly Capuccino trong căn phòng máy lạnh vừa vào Internet gửi Email cho Người Họa Sĩ Vỉa Hè New York, biệt danh Mai Thảo đặt cho Khánh Trường, để chúc mừng cuộc triển lãm hơn 100 bức tranh và kỷ niệm báo Hợp Lưu 12 năm mà vì ở xa tôi không thể tham dự. 

ANH TÀI XẾ “NO PROBLEM” :

Nửa giờ sau, Sok Thon vào đón tôi từ trong quán Café Internet và giúp đem hành lý ra xe. Taxi là một chiếc Camry cũ đời 88 có máy lạnh và nước sơn hai còn óng ả. Tôi ngỏ ý muốn tìm một khách sạn cỡ như FCCC và có tầm nhìn ra bờ sông. No Problem. Anh luôn luôn trả lời đầy vẻ tự tin như vậy.

Anh đưa tôi tới Sunshine Hotel, vẫn trên đường bờ sông Tonlé Sap, kế bên khách sạn Indochine. Chủ nhân người Hoa. Phòng trên lầu 4, cửa sổ nhìn ra con sông Tonlé Sap xuôi chảy về Quatre Bras trước Hoàng cung.

Sự tắc trách của FCCC lại giúp tôi cơ may tìm được người tài xế như bạn đồng hành mà tôi cần. Sok Thon 100% người Khmer, 10 năm lái taxi với tiếng Anh không cần văn phạm nhưng ngữ vựng đủ để hai người hiểu nhau và anh lại là người rất xính nói tiếng ngoại quốc kể cả vài câu tiếng Pháp.  

Mãi sau này, tôi được biết thêm, Sok Thon có 8 năm lính là sĩ quan có lẽ cấp úy và có hai năm ở Việt Nam (?) nên có thể nói và hiểu được chút tiếng Việt. (Riêng về khoản này, tôi tự nhủ sẽ không bao giờ sử dụng cái vốn liếng tiếng Việt của anh). Buổi chiều cuối cùng trước ngày về, sau khi ra khỏi Khu Bảo Tàng Tội Ác Diệt Chủng Tuol Sleng, tôi lại được biết thêm, quê anh ở tỉnh Kompong Chhnang, cha anh bị Khmer Đỏ giết năm 74 vì là xã trưởng, một người anh bị giết vì là thầy giáo, anh thoát chết vì giả là nông dân. Thêm chi tiết thú vị nữa là gia đình anh có 2 người trốn thoát được qua Thái Lan, nay đang ở Mỹ: một bà chị đang ở Long Beach và một đứa em trai ở Fresno. Cả hai đã có dịp trở lại thăm Cam Bốt và gặp lại gia đình. Hai vợ chồng anh có ba con, đứa con trai lớn 17 tuổi_ thế hệ sau Khmer Đỏ, đang chuẩn bị thi vào đại học, anh cho con học thêm lớp tiếng Anh và mua computer cho nó. Anh lạc quan sống bằng tương lai của những đứa con.

Sau khi check-in vào khách sạn, bước vào thang máy đụng đầu ngay với một Tây Ba Lô đi với một cô gái Miên. Hắn chào tôi trước và bảo biết tôi từ Long Beach. Tình huống khá bất ngờ khiến tôi khựng lại: đúng là tôi đang ở Long Beach nhưng lại chưa hề biết và gặp hắn ta bao giờ. Tôi hỏi lại sao anh biết ? Hắn giải thích là biết tôi rời Nam Vang cách đây 26 năm, nay mới trở về thăm. Đến đây thì tôi hiểu ngay là đang gặp một Tây Ba Lô láu cá, biết ở Mỹ có một cộng đồng Cam Bốt lớn nhất ở Long Beach và đoán già đoán non tôi là người Cam Bốt chắc phải từ Long Beach trở về. Rồi hắn ta hẹn gặp lại tôi tối nay trong quán Bar Indochine ngay bên. Tôi thì không “huởn” như hắn để phải tìm cách giết thì giờ trong những nơi như vậy.

Ném hành lý trong buồng, trở xuống ngay với người tài xế còn đứng đợi. Suốt buổi chiều hôm ấy, nửa ngày đầu ở Nam Vang, việc đầu tiên là đến hiệu sách lớn Monument Books trên đại lộ Norodom mua tấm bản đồ cập nhật xứ Chùa Tháp có kèm thêm bản đồ chi tiết thủ đô Nam Vang và cả kiếm mua mấy tờ báo Phnom Penh Post, Cambodia Daily tiếng Anh và thêm tờ báo tiếng Pháp Cambodge Soir ra buổi chiều.

Trên tờ Phnom Penh Post nơi mục “Police Blotter- Sổ Tay Cảnh Sát”không thể không gây chú ý: đầy rẫy những tin về các vụ giết người bằng đâm chém và nhất là bằng súng đạn: Xác một tài xế xe ôm tên Kong Chak, 27 tuổi vừa được tìm thấy trong một khu rừng ở Chhbar Morn, theo cảnh sát thì nạn nhân đã bị giết trước đó mấy ngày có lẽ do bị cướp_ Nov 11; Khan Chlem lính Dù 30 tuổi, Kong Mun lính Cảnh sát 31 tuổi bị bắt vì đã bắn chết chủ nhân Phnom Penh’s Holiday Club là William Tay. Cả hai được một người Đài Loan tên Lee Han Shin trả 10 ngàn đôla để thuê giết Tay _Nov 12... Nối tiếp những tin như vậy kể cả cắt cổ, hãm hiếp lấp đầy nguyên một trang báo. Phnom Penh đất nước Cam Bốt như hình ảnh một Wild West của Đông Nam Á.

Sau khi định hướng trên bản đồ, tôi chủ động bảo Sok Thon đưa đi thăm từng địa danh chính của Nam Vang mà có lẽ tôi biết nhiều hơn anh về khía cạnh lịch sử: đến với cây cầu Chruoy Changvar, đài Chiến Thắng Việt Nam Cam Bốt, cầu Monivong, khu người Chăm người Việt bên bờ sông Bassac và cả nơi vừa xảy ra hai đám cháy... đủ chụp hết hai cuộn phim trong bước đầu kế hoạch thăm viếng.  

CẦU CHRUOY CHANGVAR VÀ THE KILLING FIELDS:

Còn có tên là cây Cầu Hữu Nghị Nhật Bản. Chruoy Changvar nguyên là tên một bán đảo nằm giữa hai con sông Tonlé Sap và sông Mekong gần Nam Vang. Là nơi quy tụ sinh sống của cộng đồng người Chăm Islam đã từng bị tàn sát và chịu nhiều tang thương trong thời kỳ Pol Pot. Cầu Chruoy Changvar là “cây cầu lịch sử” dài 700m bắc ngang sông Tonlé Sap đông bắc Nam Vang, đường đi Kompong Cham 144 Km, Kompong Thom 165km và Siem Reap 311 Km. Từ trên cầu có thể thấy thấp thoáng hai ba nóc các ngôi đền Hồi Giáo.

Chiếc cầu rất nổi tiếng này đã bị giật sập trong cuộc giao tranh dữ dội năm 1975 _ biểu tượng cho sự tàn phá của đất nước Cam Bốt cũng là bối cảnh của phim The Killing Fields khi quân Khmer Đỏ vào tiến chiếm Nam Vang [ngày 17/04//75]. Đây cũng là nơi Sydney Schanberg ký giả báo New York Times, John Swain ký giả người Anh báo Sunday Times và 3 người khác bị quân Khmer Đỏ bắt và suýt bị xử bắn. Họ được Dith Pran viên thông dịch của Schanberg can đảm và lanh trí cứu sống trong gang tấc. Câu chuyện nghẹt thở này cũng được John Swain kể lại một cách chi tiết trong cuốn sách River Of Time xuất bản lần đầu tiên ở Hoa Kỳ năm 1997. Mãi tới 18 năm sau, chiếc cầu mới được Nhật giúp tái thiết (1993) với tổn phí lên tới 23.2 triệu đôla không bồi hoàn.  

CẦU MONIVONG VÀ HAI ĐÁM CHÁY KHẢ NGHI:

Còn gọi là Cầu Việt Nam, bắc ngang sông Bassac [có tên là Sông Hậu khi chảy vào Việt Nam] đông nam Nam Vang theo Quốc Lộ 1 đi Svay Rieng 110 Km và Sài Gòn 220 Km. Đây cũng là cây cầu lịch sử diễn ra những trận pháo và cả những trận đánh kinh hoàng trước khi thủ đô Nam Vang thất thủ hoàn toàn nằm trong tay quân Khmer Đỏ. Dọc bờ sông Bassac không xa chân cây cầu ấy là ngổn ngang những khu nhà ổ chuột mà đám cư dân đa số là gốc Việt. Nơi đây lại mới được báo chí nhắc tới qua 2 vụ cháy lớn vừa xảy ra.

Hàng mấy chục ngàn người nghèo khổ nhất thủ đô Nam Vang mà đa số là gốc Việt đã mất hết nhà cửa qua hai vụ hỏa hoạn liên tiếp xảy ra vào ngày 26 và 27 tháng 11 năm 2001. Vụ cháy thứ nhất gần khu Nhà hát Bassac hay còn được gọi là khu “Building”, thiêu rụi hơn 2200 căn nhà. Vụ cháy thứ hai xảy ra buổi tối một ngày sau đó nơi khu Chhbar Ampoe bên kia cầu Monivong cũng dọc theo bờ con sông Bassac thiêu hủy hơn 1000 căn nhà khiến một người bị chết cháy. Báo Phnom Penh Post chạy hàng chữ slogan trên trang nhất : Suspicious Fires Raze Slums.

Biến cố xảy ra trùng hợp với cuộc viếng thăm của Chủ tịch Nhà Nước Việt Nam Trần Đức Lương. Theo tin AFP 06/12 thì các giới chức ngoại giao Tây phương tin rằng cả hai vụ cháy có ý nghĩa như một thông điệp rõ ràng gửi tới Hà Nội. Một số nạn nhân trong vụ cháy ở Chhbar Ampoe cả quyết rằng họ bị đốt nhà nhưng Phó Giám đốc Sở Cảnh sát Nam Vang lại cho rằng cả hai vụ cháy đều do tai nạn, riêng vụ thứ hai là do nổ bình gas.

Theo một nhân chứng khác cũng xin được dấu tên của vụ cháy ở Chhbar Ampoe nói với ký giả Phnom Penh Post “Trong bóng đêm, chính mắt tôi thấy bó đuốc từ một con thuyền máy chạy nhanh từ ngoài sông tung vào, trúng túp lều của ông Thanh và bốc cháy”. Thanh là tên nạn nhân bị chết cháy. “Giải thích do bình gas bị nổ từ nhà ông Thanh là vô lý bởi vì ông ta thì bệnh hoạn quá nghèo không có cơm mà ăn phải sống nhờ bà con lối xóm thì làm gì có bình gas”. Một nạn nhân khác nói thêm: “Chúng tôi chỉ có dùng than củi chẳng ai có tiền mà mua nổi bình gas cả. Đã thế đám lính chữa lửa khi tới nơi còn đòi tiền các nạn nhân trước khi chịu phun nước để dập tắt ngọn lửa.”

Khi tôi tới thăm hiện trường 2 đám cháy, còn ngửi thấy mùi than khét với ngổn ngang những mảnh vụn gạch vữa, các xà gỗ cháy dở dang, vài miếng tôn cũ cháy đen cong queo, các cây xanh cây dừa chỉ còn đứng trơ thân nám và đã cháy rụi hết lá. Các gia đình nạn nhân thì đã được tống lên xe đưa ra xa ngoài thủ đô, trên cảnh đổ nát ấy chỉ còn thấy vài ba con chó hoang không biết kiếm thức ăn gì trong đống tro than ấy. Và cũng khó tưởng tượng rằng trên hai diện tích nhỏ hẹp ấy lại có thể là nơi sinh sống ngày đêm cho ngót hai chục ngàn con người không biết từ bao năm rồi.

“Tai Nạn hay Bị Đốt”, bây giờ thì cũng sự đã rồi, việc giúp đỡ các nạn nhân lại thuộc trách nhiệm của các cơ quan ngoại quốc như: Dự Án Giảm Nghèo Đô Thị (Urban Poverty Reduction Project), Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc / UNDP và Viện Phát Triển Quốc Teá / DfID (Department for International Development).

Mark Mallalieu, chủ tịch Viện Phát Triển Quốc Tế Đông Nam Á nói rằng tổ chức ông sẽ xem xét tới các dữ kiện mới thu thập được và nguyên tắc chỉ đạo của cơ quan là sự quan tâm giúp đỡ người nghèo... Dĩ nhiên chúng tôi muốn được biết điều gì đã thật sự xảy ra và cả những nguyên nhân tiềm ẩn để từ đó DfID có thể đáp ứng một cách thích đáng.

Theo ước tính của Trung Tâm Tái Định Cư Liên Hiệp Quốc / UNCHS (United Nations Centre for Human Settlement) thì có khoảng 16,500 người chịu cảnh màn trời chiếu đất sau 2 vụ cháy. Chính quyền đã di chuyển ngay số nạn nhân của vụ cháy thứ nhất và phân nửa số nạn nhân của vụ cháy thứ hai ra khỏi thủ đô. Các tổ chức phi chính phủ NGOs thì chỉ trích phản ứng vội vã của chính quyền Nam Vang khi đưa các nạn nhân tới một nơi không có chút tiện nghi sinh hoạt.

Có rất nhiều người vẫn tin rằng cả hai vụ cháy là do bị đốt cho dù Chea Sophara, Đô trưởng Nam Vang không những lên tiếng phủ nhận mà còn dọa truy tố ai loan truyền những tin đồn đãi như vậy. Có ai đốt nhà mà lại công khai nhận tội bao giờ.

Đã từ lâu chính quyền Nam Vang không hề giấu diếm kế hoạch muốn khai quang các khu gia cư hỗn độn thiếu vệ sinh trong thủ đô, bị coi là gây ảnh hưởng xấu trong bước phát triển kỹ nghệ du lịch. Nơi các dải đất dọc theo bờ sông Bassac xuống tận phía nam cây cầu Monivong với đám dân nghèo trong các xóm nhà lá này _đa số là người Việt, vẫn được xem như là dân chiếm đất bất hợp pháp.

Cũng theo ký giả Phnom Penh Post thì ngay sau vụ cháy, chính quyền Nam Vang đã ngăn cấm không cho các tổ chức quốc tế phi chính phủ tới giúp đỡ các nạn nhân tại chỗ. Họ chỉ được phép đến giúp tại khu tái định cư xa bên ngoài đường ranh thủ đô.

Cho dù có sự can thiệp liên tục của các tòa đại sứ, các tổ chức cứu trợ NGOs với những cuộc điện đàm qua lại nhưng kết quả cũng không hơn gì: vào đêm ngày 3 tháng 12, hơn 500 gia đình nạn nhân còn lại của khu hỏa hoạn thứ nhất bị hốt lên đoàn xe tải đưa tới các khu tái định cư bên ngoài thủ đô. Riêng với những căn nhà chưa bị cháy rụi thì họ được lệnh phải rỡ ø đi ra khỏi vùng giải tỏa trong vòng 2 tuần lễ.

Các gia đình nạn nhân được đưa tới hai khu ngoại ô: khu Anlong Kngah 154 ha, khu thứ hai Anlong Gong nhỏ hơn, cả hai đều không có đường xá và nằm trên một cánh đồng thấp [flood plains]. Các chuyên viên cứu trợ ngoại quốc cho rằng cả hai khu đều hoàn toàn không thích hợp cho việc tái định cư và phải cần ít nhất là sáu tháng tu bổ chỉnh trang trước khi đưa dân tới bởi vì đây chỉ là hai khu đất hoang không chợ búa, không trường học, không trạm y tế và cũng không có cơ hội về công ăn việc làm nào cho các nạn nhân.

Peter Swan, thuộc Nhóm Giảm Nghèo Đô Thị Nam Vang (Phnom Penh Urban Poverty Reduction Group) nhận định rằng khi các nạn nhân không có công ăn việc làm nơi tái định cư thì sớm muộn họ cũng tìm cách bỏ đi. Swan nhắc tới kinh nghiệm vụ hỏa hoạn trước đó hồi tháng 5/ 2001 cũng ở xã Bassac khiến 500 gia đình trở thành vô gia cư , họ bị đưa về Chungruk một khu đất khó sống xa thủ đô không có chút tiện nghi và không công ăn việc làm tại chỗ: kết quả là hơn phân nửa đã rời bỏ khu tái định cư này.

Swan tin rằng bây giờ phải cần ít nhất từ 4 tới 6 tháng để phân lô dựng khoảng 1000 đơn vị gia cư và con số đó cũng chỉ mới đáp ứng chưa tới 40% nhu cầu trên vùng tái định cư và kế hoạch phải gấp rút hoàn tất trước mùa mưa. Đắp nền, mở đường, làm hệ thống cống rãnh là ưu tiên thứ nhất. Lẽ ra phải làm xong công tác ấy trước khi đưa dân tới. Giải pháp tốt nhất là bước đầu lưu giữ họ trong các căn nhà tạm trú ngay trên vùng mới bị cháy: giúp các nạn nhân vẫn giữ được công ăn việc làm và con cái của họ vẫn có thể tới trường học. Trong khi đó thì bắt đầu ngay công việc xây dựng trên khu mới. Đó là một nỗ lực cần thời gian, không thể giải quyết một cách tức thời.

Việc tức khắc tống đám dân nghèo ra khỏi Nam Vang, dồn họ vào những khu đồng hoang có nguy cơ tạo nên một vòng đai những khu nhà ổ chuột khác bao quanh thủ đô. Tương lai của các khu tái định cư này phải nói là rất mờ mịt: không có công ăn việc làm tại chỗ, không có phương tiện giao thông để hàng ngày đi tìm việc kiếm sống ở nơi khác, và điều đáng buồn hơn nữa là trẻ con thì không có trường học, các bà mẹ và trẻ sơ sinh cũng như người già ốm đau không có nơi chăm sóc.

Chính quyền Nam Vang đã tạo nên cái vòng lẩn quẩn_ vicious cycle của sự nghèo khó. Vẫn cái bài học mà người ta không học được qua kinh nghiệm về những chương trình tái định cư trong các thập niên qua không chỉ ở Cam Bốt mà cả ở các xứ Nam Mỹ. Và người ta lại đang làm như vậy đối với ngót 20 ngàn nạn nhân nghèo khổ mà đa số là người Việt trong hai vụ hỏa hoạn vừa qua.

Trải qua bao nhiêu bước thăng trầm của đất nước Cam Bốt, đám người Việt tha phương này lúc nào cũng chỉ là một thứ “công dân hạng hai” trên xứ Chùa Tháp và nơi quê hương Việt Nam từ xa thì cũng không có dấu hiệu của một vòng tay rộng mở hay chút tình cảm cưu mang họ.  

TƯỢNG ĐÀI CHIẾN THẮNG VIỆT NAMCAM BỐT

1979-89 Hơn 100,000 quân Việt Nam chiếm đóng Cam Bốt. Sau 10 năm với nhiều tổn thất và cả do áp lực quốc tế Việt Nam phải rút quân về, để lại Hun Sen và một chính phủ được coi là thân Việt Nam. Nơi sào huyệt Pailin tây nam Cam Bốt, lực lượng Khmer Đỏ tiếp tục bị suy yếu và phân hóa, với Ieng Sary nhân vật số 2 hồi chánh, Son Sen bị Pol Pot hành quyết và rồi chính Pol Pot cũng bị giam lỏng và chết sau đó.

Sau tổng tuyển cử với giám sát của Liên Hiệp Quốc, Hun Sen vững vàng nổi lên như một người hùng strongman, tách dần khỏi tầm ảnh hưởng của Hà Nội.

Ở Nam Vang sau 10 năm, ngoài tòa Đại sứ chỉ còn lại trơ trọi một Tượng đài Chiến Thắng Việt Nam Cam Bốt trên quảng trường Norodom và Sihanouk nhưng không biết được tới bao giờ.

Ngày 7 tháng 1 năm 1979, ngày quân đội Việt Nam tràn sang Cam Bốt lật đổ chế độ Khmer Đỏ giải phóng Nam Vang, ban đầu được coi là Ngày Lễ Độc Lập của Cam Bốt. Nhưng kể từ 1993, Nam Vang chỉ coi đó là Ngày Chiến Thắng Chế Độ Diệt Chủng. Cuốn lịch cho năm 2002 do chủ nhân khách sạn sang trọng Cambodiana [một liên doanh với Singapore] phát hành đã bị Bộ trưởng Thông Tin của Hunsen nghiêm khắc cảnh cáo và đã phải công khai xin lỗi về tội danh gán cho là xuyên tạc lịch sử Cam Bốt khi cho in trên cuốn lịch ghi “Ngày 7 Tháng 1 là Ngày Việt Nam Giải Phóng Cam Bốt”. Công bằng mà nói, kể cả với những người Khmer chống Việt Nam, người ta không thể không tự hỏi những gì sẽ còn tiếp tục xảy ra cho người dân Cam Bốt nếu vẫn phải sống dưới chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ trong suốt 10 năm ấy nếu quân đội Việt Nam không tràn qua “Xâm Lăng Cam Bốt.” Vừa yêu vừa ghét / ambivalence đó là tâm trạng phức tạp của những người Khmer sống sót đi ra từ Những Cánh Đồng Chết.

Nam Vang ngày nay không chỉ đang xa dần Việt Nam mà còn lựa chọn một tư thế thách đố với Hà Nội và để càng ngày càng rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc.

NGƯỜI VIỆT TRÊN VÙNG ĐẤT KHÓ

Người Việt ở Cam Bốt sống dọc theo hai bên bờ sông Mekong, sông Tonlé Sap và Biển Hồ tuy đã trải qua nhiều thế hệ nhưng lại khác với cộng đồng người Hoa dễ dàng sống hòa hợp, đám người Việt này luôn luôn bị nghi kỵ và cả thù ghét. Họ bị người Khmer khinh thị gọi là “bọn Yuon” có nghĩa là “bọn Bắc”. Người Thái Lan cũng chẳng ưa gì người Việt nhưng đã không có những biểu hiện thù hận bạo động như ở Cam Bốt. “Cáp Duồn” là những đợt người Khmer nổi dậy tàn sát cắt cổ người Việt không phải chỉ có trên đất nước Cam Bốt mà ngay cả nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long trong “Mùa Thổ Dậy” là những ngày đẫm máu kinh hoàng, nếu đã phải trải qua thì không thể nào quên. Giữa cao điểm của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, cho dù trên danh nghĩa đang là một đồng minh, chính quyền Lol Nol thân Mỹ cũng đã phát động một cuộc ruồng bắt và “cáp duồn” người Việt khủng khiếp nhất trên quy mô cả nước. Đến thời kỳ Khmer Đỏ, một số lớn những người Việt cũng đã bị thảm sát qua các cuộc tẩy sạch chủng tộc - ethnic cleansing. Thực sự không có thống kê chính xác con số người Việt hiện còn sinh sống ở Cam Bốt là bao nhiêu: từ 200 ngàn tới 1 triệu trong số 11 triệu dân Cam Bốt chỉ là phỏng đoán.

“Chống Việt Nam” bằng bất cứ giai thoại nào đúng hay sai vẫn luôn luôn là một chiêu bài ăn khách và thu phiếu về cho bất cứ cuộc vận động tranh cử nào ở Cam Bốt. Khó mà tìm được một người Cam Bốt nói tốt về người Việt Nam nào đang sống trên đất nước của họ. Một thành viên trong nhóm bảo vệ nhân quyền đã kể lại với ký giả báo Far Eastern Economic Review (1994): “Nếu có được quyền lựa chọn thì đa số người Khmer đều muốn tống xuất tất cả người Việt ra khỏi Cam Bốt”. Cả đến những vụ thanh toán giết tróc giữa những người Khmer với nhau, cũng được khoác cho nét hận thù của kẻ phản bội do hợp tác với người Việt mà họ gọi là bọn “xác Khmer hồn Việt.”

Tinh thần “Bài Việt” của người Khmer có cội rễ trước khi người Pháp đặt chân tới Đông Dương khi mà quốc gia này luôn luôn bị xâu xé bởi hai quốc gia láng giềng lớn hơn là Việt Nam và Thái Lan. Riêng Việt Nam, qua chánh sách bành trướng thời Minh Mạng đã thiết lập nền bảo hộ trên đất Chùa Tháp không chỉ nghiệt ngã mà còn đầy tính cách trịch thượng khoa trương như: “Bọn rợ Miên nay là con cái trẫm, phải dạy dỗ và giúp chúng thấm nhuần các tập tục của ta.” Các quan triều Nguyễn từ Trương Minh Giảng tới Bảo Hộ Thoại Ngọc Hầu đã cai trị đất nước Cam Bốt bằng bàn tay sắt, một chính sách rất ư là hà khắc. Những điều sai trái này đã tích lũy tạo thành “mối thù hận lịch sử” và cả thêm nỗi ám ảnh sợ hãi bị người Việt tiếp tục chiếm đất và xâm lấn.

Rồi tiếp nối bằng chánh sách chia để trị của người Pháp lại càng đào sâu mối chia rẽ và thù hận đã có sẵn ấy. Tưởng cũng nên nói thêm là Đồng bằng Sông Cửu Long vẫn được người Khmer coi là thuộc Cam Bốt sau này bị sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam bằng cuộc Nam Tiến của người Việt. Đối với người Khmer [và cả người Chăm] thì thực chất đó là một cuộc xâm lăng bành trướng và chiếm đất.

Nói chung, cuộc sống của cộng đồng người Việt tha hương trên đất nước Cam Bốt: chẳng dễ dãi hay vẻ vang gì. Đa số sống bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ hay làm thuê làm mướn. Nếu vẫn sống ở quê hương Việt Nam, họ cũng chẳng thể khổ hơn như vậy.

Hơn 70% số gái điếm kể cả vị thành niên đang hành nghề ở Cam Bốt là người Việt. Một số không ít mới được mua từ Đồng bằng Sông Cửu Long đưa sang qua ngả biên giới. Một con số làm nhiều người ngạc nhiên và cả gây đau lòng cho những ai vẫn hãnh diện là hậu duệ của các thế hệ khai phá Nam Tiến. 

TỪ ĐẠI HỌC HOÀNG GIA PHNOM PENH TỚI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trên mảnh đất Cam Bốt đau thương, những cây thốt nốt cho dù đầy thương tích vẫn cứ trổ hoa kết trái và cho những tấn mật ngọt. Cũng như sinh viên tuổi trẻ Cam Bốt thế hệ Sau Khmer Đỏ được sinh ra giữa tro than giữa một xã hội bất toàn nhưng những cây non ấy đã bám rễ để đâm chồi nở lộc và vươn lên trời xanh. Họ có tiếng nói chống những bất công tham nhũng trong vòng thành đại học, nghĩa là những vấn đề thiết thân tới tương lai họ, nhưng đồng thời họ cũng có những mối quan tâm xa hơn bản thân: không thiếu những cuộc biểu tình đòi dân chủ đòi đất đai vùng biên giới...

Nhìn sang tuổi trẻ Việt Nam là một sự im lặng và tương phản đến gây kinh ngạc. Suốt 27 năm trường ấy kể từ 1975, chưa hề thấy một cuộc xuống đường biểu tình nào của sinh viên xuất phát từ các campuses đại hoc quốc gia Hà Nội, Huế hay Sài Gòn. * 

ĐƯỜNG SỐ 5: KHU KỸ NGHỆ TONLÉ SAP:

Lúa gạo và cá là xương sống của nền kinh tế Cam Bốt từ bao thế kỷ. Giấc mơ kỹ nghệ hóa là bước phát triển tiếp theo kể từ khi có hòa bình. Điển hình là khu kỹ nghệ mọc lên và không ngừng phát triển theo con đường số 5 dọc bờ sông Tonlé Sap: các nhà máy hóa chất, nhà máy rượu, các nhà máy cưa, khu kỹ nghệ bông vải và may mặc ...

Sok Thon giải thích sở dĩ khu kỹ nghệ lập bên sông là để dễ có nguồn nước cung cấp cho các nhà máy. Nhưng đồng thời tôi cũng phải hiểu thêm rằng  giống với khu chế xuất Vân Nam trên hai bờ sông Mekong, tuy ở một quy mô nhỏ hơn thì con sông Tonlé Sap cũng dần đà trở thành cống rãnh cho các chất thải kỹ nghệ hoặc sẽ được đưa đẩy lên Biển Hồ trong mùa mưa và đổ xuống Đồng bằng Sông Cửu Long qua hai con sông Tiền Sông Hậu trong mùa khô. Khi mà độ ô nhiễm con sông Tonlé Sap chưa tới ‘ngưỡng tử vong’ thì vẫn còn những đợt cá [tuy có giảm đi] từ Biển Hồ xuống ĐBSCL nhưng sẽ không còn là ‘những con cá sạch’ mà đã trở thành một nguồn cá bị ô nhiễm.  

Vẫn là những Bài Học Không Học / Unlearned Lessons: lập khu kỹ nghệ bên sông, đổ chất phế thải và những tai nạn môi sinh. Người ta vẫn chưa quên được tấn thảm họa môi sinh lớn nhất của Thái vào tháng 3 – 1992 khi 9 ngàn tấn mật mía từ nhà máy Khon Kaen đổ xuống con sông Nam Pong rồi chảy vào hai con sông Chi và sông Mun là hai phụ lưu của con sông Mekong khiến không còn một giống cá nào sống sót nhưng hậu quả ra sao đối với Đồng Bằng Sông Cửu Long thì không ai được biết .

Cuối năm 1998, lại thêm một thảm kịch môi sinh khác “Made in Taiwan” xảy ra ở Sihanoukville khi các nhân viên hải quan Cam Bốt ăn hối lộ để cho một công ty kỹ nghệ Plastics từ Đài Loan trút những thùng chứa chất phế thải kỹ nghệ có thủy ngân cực độc xuống vùng phụ cận Shihanoukville khiến các công nhân bến cảng khuân vác các thùng chứa này bị chết vì nhiễm độc. Cho dù sau đó công ty Formosa Plastics chịu trách nhiệm thu hồi nhưng khu du lịch sinh thái Sihanoukville đã mang tì vết ô nhiễm không còn có du khách.

Có bao nhiêu vụ “scandals” như vậy với chất phế thải độc hại đổ xuống sông xuống biển và cả trên đất liền mà người ta không hề hay biết. Đồng Bằng Sông Cửu Long luôn luôn là điểm hẹn cuối cùng của đủ loại chất phế thải ấy.

Tin cuối năm mới nhất trên trang báo The Nation Thái Lan [12/14/01]: Giới chức địa phương báo động dân chúng tránh ăn cá bị nhiễm độc trên sông Lop Buri [là một phụ lưu của con sông lớn Chao Phraya lớn thứ hai sau con sông Mekong] do nước sông bị ô nhiễm vì các hóa chất do nước chữa cháy từ một ngôi chợ đổ dồn xuống sông và giết chết các loài cá. Các độc chất này sẽ tan loãng khi chảy vào các con sông lớn. Nhưng giới chức y tế vẫn lo ngại rằng số cá chết do nhiễm độc sẽ được đám con buôn đem ra chợ bán. Thử nghiệm các mẫu nước sông đầu tiên cho thấy lượng oxy giảm xuống chỉ còn một nửa.

Rồi sẽ có một ngày, nơi khúc sông Tonlé Sap trước khi đổ vào Quatre Bras, khi mà lượng oxy trong nước xuống dưới 50