TỪ ỦY BAN TỚI HỘI ÐỒNG SÔNG MEKONG 1957-1997 TRƯỚC NHỮNG THỬ THÁCH VÀ TRIỂN VỌNG
ABSTRACT: American dam builders have been eyeing the
Mekong since 1940. They have recommended a series of dams not only for
hydropower but also for the development of irrigation, agriculture, fisheries
and transport. In 1957, the United Nations set up the MEKONG COMMITTEE. The
governments of Thailand, Laos, Cambodia and Vietnam established their own
national committee and a secretariat was set up in Bangkok. Under the rules of
the committee, decisions about damming were to be unanimous with each member
having Veto Power. By that time, the Vietnam war was spilling over into Cambodia
and Laos, the mainstream dams had to be postponed. The Vietnam war ended in
1975, at which time an Interim Committee was formed without Cambodia. In the 90s,
with the acknowledgment of the great political, social and economic changes in
these countries, efforts were made to reassess, redefine and establish the
future frame work for cooperation. On April 5, 1995 the governments of 4
countries signed an Agreement on the Cooperation for the Sustainable Development
of the Mekong Basin and for the establishment of the MEKONG COMMISSION. The
parties agreed that a decision of the Joint Committee that resulted from a Timely
Notification and Prior Consultation...is neither a Right to Veto nor an
unilateral right to use the water by any riparian without taking into account
the right of other riparian countries. FROM THE MEKONG COMMITTEE TO THE MEKONG COMMISSION
1957-1997: CHALLENGES AND PERSPECTIVES , a brief overview of the development
dilemmas in the Lower Mekong Basin.
THAY LỜI DẪN NHẬP "Họ lấy quyền gì mà bảo là không muốn con đập Pa Mong. Chuyện họ muốn hay là không muốn chẳng có nghĩa là gì cả, khi mà chính quyền nhà nước
[Thái lan] đã muốn như vậy. Nếu chúng ta cứ nghe theo họ là chấp nhận cho sự rối loạn ngự
trị."Thông báo của Bộ Thủy lợi Hoàng gia Thái (1990). Bộ trưởng Thương mại Thái Narongchai Akrasanee, đã phát biểu trước Hội đồng
Thương mại hỗn hợp Mỹ và Hiệp hội
của Quốc gia Ðông Nam (US-ASEAN) rằng Thái lan muốn đóng Vai Trò Chủ Chốt - Anchor Role, trong kế hoạch
phát triển sông
Mekong. Tin báo Bangkok Post (05-23-1997).
Theo định nghĩa địa dư chính trị (geopolitics), con sông được coi là quốc tế
khi (a) nó chảy qua hai hay nhiều quốc gia, hoặc (b) nó tiêu tưới
vài vùng lưu
vực bao gồm hai hay nhiều quốc gia, hoặc (c) nó liên quan tới vấn đề
biên giới
thuộc lãnh vực công pháp quốc tế, hay (d) nó liên hệ ảnh hưởng giao thông đi lại
bằng một thỏa thuận quốc tế. Thử khảo
sát từng khía cạnh nêu trên với con sông
Mekong.
Bắt nguồn từ vùng núi non cao nguyên
Tây tạng, con sông chảy siết về hướng
đông nam ngang qua tỉnh Vân nam thuộc Trung hoa, tiếp theo là đoạn ranh giới
giữa Miến điện (Myanmar) và Lào, rồi bắt đầu chảy
vào khu vực hạ lưu, với một
khúc sông ngắn là biên giới thiên nhiên giữa Lào và Thái lan, tiếp đó con sông
chảy về hướng đông nam trong nội địa nước Lào. Ra khỏi nam Lào, con sông chảy
qua Cambốt rồi nam Việt nam trước khi đổ
vào biển Nam hải. Lưu vực tiêu tưới (drainage basin) của con sông Mekong bao gồm
có nước:
Trung hoa, Miến điện, Thái lan, Lào, Cambốt và nam Việt nam. Con sông Mekong, trong quá khứ đã từng liên
quan tới vấn đề tranh chấp biên giới giữa
các nước. Hơn một trăm năm trước (1893), Pháp nhân danh sự toàn vẹn lãnh thổ của hai xứ bảo hộ An nam (Việt nam) và Cao miên (Cambốt), đã đưa
tàu chiến tới và ra tối hậu thư bắt vua Thái lan phải nhượng tất cả đất đai
thuộc phía đông sông Mekong; rút cuộc Thái chỉ còn lại khúc sông 500 dặm như
là đường biên giới thiên nhiên với nước Lào. Di chuyển trên sông Mekong - như một thủy lộ quốc tế, lẽ ra là hoàn toàn tự do theo bộ luật La mã, nhưng trong thực tế tự do chỉ có nghĩa rất tương
đối. Khi con sông chảy vào nội địa một quốc gia thì quyền tự do giao thông vẫn
có thể bị hạn chế hay bị tước đoạt tùy theo cách diễn dịch của quốc gia
liên hệ. (Một ví dụ, cho dù đã có một Hiệp ước ký ngày 29-12-1954 giữa Lào, Cambốt và Việt nam nhưng theo báo New York Times, thì ngay giữa cuộc chiến
tranh Việt nam, ngày 20 tháng 9, 1964 do tình báo của chính phủ Sài gòn ghi
nhận là cộng sản Bắc Việt đã chuyên chở vũ khí bằng đường sông xuống Nam vang
rồi từ đó đưa vào nam Việt nam, khiến tướng Nguyễn Khánh lúc đó là thủ
tướng tuyên bố cần phải hạn chế lưu thông trên sông Mekong nếu như Cambốt vẫn
tiếp tục chính sách thiếu thân thiện với Nam Việt nam) (1). Do hội đủ tất cả những đặc tính ấy, Mekong đúng nghĩa là một con sông quốc tế
(international river).
UỶ BAN MEKONG & NHỮNG DỰ
ÁN KHỞI ÐẦU: Ủy Ban Sông
Mekong (The Mekong Committee) được hình thành từ năm 1957 do chính phủ bốn nước:
Thái lan, Lào, Cambốt và Việt nam, nhằm mục đích khai thác và phát triển tiềm
năng kinh tế của con sông Mekong trong các lãnh vực thủy điện, thủy lợi, ngăn
ngừa lũ lụt và thủy lộ giao thông. Từ bốn thập niên trước ấy, đã có những dự
án
phát triển trên dòng chính sông Mekong theo đề nghị của
ủy ban Kinh tế Á châu và Viễn đông ECAFE (Economic Commission for Asia and Far East, 1957) với sự giám
sát pháp lý của Ủy ban sông Mekong.
Có ba dự
án ưu tiên bao gồm có đập Pa Mong, Sambor và Tonle Sap:
Dự án Pa Mong: cách thủ đô Vạn tượng 15 dặm là đường ranh giới thiên nhiên giữa Thái lan và
Lào; Pa Mong sẽ là đập chứa nước chính của hệ thống sông
Mekong, sẽ kiểm soát lưu lượng toàn con sông ra tới cửa biển Nam hải và dĩ
nhiên sẽ ảnh hưởng tới tất cả những kế hoạch vùng hạ lưu trong tương lai. Nó có khả năng tiêu tưới 2 triệu rưỡi mẫu Anh cho vùng đông bắc Thái lan là cao
nguyên Korat và Lào, cung cấp nguồn điện khoảng 2000 MW. Hồ nước với dung
lượng 78 triệu mẫu-bộ (acre-feet) có chiều
dài khoảng 210 dặm sẽ dìm sâu trong
đáy nước một vùng rộng lớn đất đai và nhàcửa của khoảng 60 ngàn dân cư nhưng
sẽ cải thiện thủy lộ lưu thông trên thượng nguồn, nâng cao mức sống và phát triển của toàn miền đông bắc Thái. Dự án Sambor: cách phía bắc thủ đô Nam vang 140 dặm hoàn toàn nằm trong
lãnh thổ Cambốt, được quan niệm như một hệ thống thủy điện trên sông và có khả
năng tiêu tưới cho khoảng 90 ngàn mẫu Anh. Công trìn sẽ nằm phía dưới vùng
Sambor, mức nước dâng cao sẽ làm ngập suốt 50 dặm ghềnh thác và cải thiện thủy
lộ trên vùng thượng nguồn mở ra triển vọng giao thông giữa hai nước Lào và Cambốt. Bước đầu dự
án sẽ cung cấp 625 MW và giai đoạn hai, sau công trình Pa
Mong, lượng điện cung cấp sẽ lên tới 1000 MW, đủ cung cấp cho nhu cầu kỹ nghệ
và dân dụng, đồng thời dùng cho việc bơm tưới cả vùng đất đai thuộc Cambốt và nam Việt nam. Sự điều hợp kỹ thuật là cần thiết giữa hai dự
án Pa Mong và Sambor. Hệ quả của đập Pa Mong trên dự
án Sambor rất quan trọng, do đó việc
khởi công đồng thời cả hai dự án sẽ đem lại hiệu quả cả về kỹ thuật lẫn kinh
tế. Theo ước tính sơ khởi với trị giá đồng tiền lúc
đó dự án Pa Mong sẽ cần
tới khoảng 600 triệu Mỹ kim (theo ước tính hiện nay, chi phí cho riêng đập Pa
Mong là tới 2.8 tỉ Mỹ kim) và đập Sambor khoảng 300 triệu và sẽ bao gồm
trong một dự án chung kết hợp. Dự án Tonle Sap: công trình nầy sẽ như một đập chắn giữa Nam vang và Biển
hồ. Biển hồ sẽ có công dụng như một hồ chứa thiên nhiên của con sông Mekong,
bởi vì con nước suốt 5 tháng mùa lũ lụt đã chảy ngược về Biển hồ. Như vậy cửa
đập sẽ đóng trong mùa khô để con sông đổ ra biển, và sẽ mở ra trong mùa lũ để
nước chảy ngược vào Biển hồ tới mức dự trữ cao nhất và như vậy sẽ giảm thiểu
nạn lũ lụt. Trong mùa nước thấp, cửa đập sẽ được mở ra từng phần, duy trì mức
sông sâu cho tàu biển vẫn có thể ra vào sông Mekong và đồng thời giảm thiểu
lượng nước mặn xâm nhập vùng châu thổ, từ đó có thể gia tăng thêm 2 triệu rưỡi
mẫu Anh bỏ hoang vì muối phèn, vì hạn hán hay lũ lụt. Theo dự tính mực nước hồ
sẽ luôn luôn được giữ cao hơn mức thấp khoảng một mét, có hiệu quả làm gia
tăng lượng tôm cá trong Biển hồ đang có nguy cơ bị sa sút - và
đây cũng là nguồn chất đạm chínhh cho người dân Cambốt. Sau cùng, do nguồn sản xuất điện từ
Tonle Sap sẽ theo mùa, nên nguồn thủy điện từ Sambor sẽ là phần hỗ trợ cho dự
án Tonle Sap. Thứ đến là
các dự án mang thứ tự ưu tiên hai và ba, bao gồm dự
án thác Khone
và dự án Khemarat.
Dự án thác Khone: vị trí ngay phía bắc ranh giới giữa Cambốt và
Lào có khả
năng cung cấp 800 MW điện, tưới cho khoảng 125 ngàn mẫu Anh đất, đồng thời cải
thiện khúc thủy lộ giao thông khoảng 30 dặm phía trên thượng nguồn. Dự án Khemarat: vị trí phía dưới chân thác Khemarat, giữa ranh giới Thái lan và nam Lào, dự trù sản xuất 800 MW điện, bơm tưới cho khoảng 125 ngàn mẫu
Anh đất; dự án còn có mục đích ngăn lũ và thêm được một thủy lộ sâu chạy dài khoảng 160 dặm. Ngoài ra còn một số địa điểm khác trên dòng chính sông Mekong cũng được
nghiên cứu cho những con đập khác như: đập Pak Beng nhằm sản xuất điện, ngăn
lũ và thêm thủy lộ lưu thông; đập Pak Lay và Luang Prabang cũng nhằm sản xuất
điện, mở thêm thủy lộ giao thông. Các địa danh khác cũng được lưu
ý tới: Bang
Kan, Thakhek dọc biên giới Thái Lào, Pakse ở nam Lào, Stung Treng ở Cambốt...
Con sông xanh cuồng nộ nhưng thầm lặng ấy dường như vẫn chưa có gì thay đổi
trải qua hàng ngàn năm, từng đã bị quên lãng, từng đã bị hủy hoại vì những cuộc
chiến tranh. Tuy là một con sông lớn hàng thứ 7 của
Á châu và hàng thứ 12 của
thế giới - nhưng lại được coi là kém khai thác nhất trong vùng
đông Nam Á và cả
thế giới . Với số đập hiện nay trong khu vực hạ lưu ( 9 đập trong nội địa Thái - nổi tiếng là đập Pak Mun với công suất 136 MW; 3 đập ở Lào - nổi tiếng với đập
Nam Ngum công suất 150 MW) chủ yếu là trên các nhánh phụ lưu, người ta cũng chỉ
mới kiểm soát ngăn chặn đưa vào xử dụng chưa tới 5% lưu lượng nước con sông hàng
năm đổ ra biển.
Nhưng khi thực hiện được 9 đập lớn trên dòng chính sông Mekong và hơn 50 đập
nhỏ khác trên các phụ lưu - theo như dự án của Hội đồng sông Mekong, nhằm cung
cấp điện cho cả vùng kinh tế đang mau chóng phát triển, thì phải
nói rằng trong
một tương lai không xa, toàn hệ thống hoang dã của con sông Mekong sẽ biến đổi
sâu xa, ảnh hưởng trực tiếp trên đời sống của hơn 50 triệu dân cư sống bên những
sông rạch và ruộng đồng - bấy lâu vẫn phụ thuộc vào chu kỳ 2 mùa lũ-hạn hàng năm
(annual flood-drought cycle) của con sông Mekong. Rõ ràng hậu quả trước mắt là
các con đập sẽ dìm sâu trong nước những vùng đất đai, hàng trăm ngàn người sẽ bị
mất hết nhà cửa phải tái định cư, đó là chưa kể mối nguy hại cho các loại muông
thú và nhất làảnh hưởng tác hại trên toàn hệ sinh thái của tôm cá vốn rất
phong phú của con sông Mekong. Ngoài ra, ruộng đồng sẽ không còn được tô bồi
hàng năm bằng lớp phù sa màu mỡ do những con nước lũ (4).
Khác với sông
Nile (Ai cập) và sông Hằng (Ấn độ), dường như đã không có một nền văn hóa sông
Mekong thuần nhất. Miến điện, Thái, Lào và Cambốt thuộc văn hóa Nam
Á trong khi
Trung Hoa, Việt Nam (cùng với Ðại Hàn, Nhật bản) thuộc nền văn hóa
Ðông Á mà các nhà báo ví von gọi là "nền văn hóa cầm đũa - la civilisation de la baguette".
Lại thêm sự khác biệt về những chế độ chính trị: dọc theo con sông ấy, bờ bờ
đông tả ngạn trong một thời gian dài là thành trì của chế độ cộng sản cứng nhắc,
tàn bạo và lì lợm; trong khi phía bờ tây hữu ngạn là chế độ quân phiệt nhưng
theo kinh tế tư bản phát triển hoang dã. Cho dù dưới chế độ chính trị nào thì họ
vẫn gần gũi nhau trong một khung cảnh khí hậu nhiệt đới, sống trong những đất
nước được mệnh danh là đang phát triển, chưa có tự do dân chủ và với khoảng cách
giàu nghèo còn đang rất nhiều cách biệt (3).
Bây giờ tình hình đã có những dấu hiệu đổi khác từ bên bờ phía đông sông
Mekong, với chính sách "mở cửa" theo kinh tế thị trường ở, điều ấy mang thêm
ý nghĩa gì trong việc triển khai dự án sông Mekong? Khi mà trong mỗi kế hoạch đã ẩn chứa những mâu thuẫn sâu xa về quyền lợi giữa các nước thành viên nếu chỉ
đứng trên quan điểm quốc gia hạn hẹp của riêng mình. Không dễ gì vượt qua
trở ngại nếu nếu không có được một không khí cởi mở đối thoại dẫn tới sự tin cậy
cùng với những tính toán thận trọng.
Một ví dụ liên quan tới dự
án Pa Mong rất được Thái lan nhiệt tình cổ võ không phải chỉ do tiềm năng thủy điện lớn lao cung cấp cho kỹ nghệ và
dân dụng
(2000 MW) mà còn do kế hoạch dẫn thủy bơm tưới cho cả một vùng đông bắc Thái lan
nghèo nàn rộng lớn khô cằn với dân cư chiếm tới 2/5 tổng số dân Thái. Bởi lẽ đó người ta đã không ngạc nhiên khi thấy Thái lan là nước mong thực hiện sớm nhất
dự án nầy để có thêm được 2 triệu rưỡi mẫu Anh đưa vào sản xuất - trong khi Thái lan đã đứng đầu thế giới về xuất cảng gạo và Việt nam thì đứng hàng thứ hai.
Nhưng còn hậu quả môi sinh của Pa Mong đối với các nước hạ nguồn sẽ ra sao? Như
làm trầm trọng thêm nạn xâm lấn nước mặn từ biển vào sâu trong vùng châu thổ -
mà quốc gia chịu nguy hại trực tiếp không ai khác hơn là Việt nam. Nếu đây là mối e ngại của Việt nam thì đó thực sự không phải là mối quan tâm của Thái.
Một ví dụ thứ
hai, trong khi kế hoạch Tonle Sap và Sambor rất được Việt nam tha thiết quan
tâm, do hai hồ chứa nầy (một thiên nhiên và một nhân tạo) ngoài mục đích sản
xuất điện, còn có khả năng điều hòa mực nước theo hai mùa lũ lụt và khô hạn đồng
thời ngăn chặn nguồn nước mặn từ biển lấn sâu vào vùng đồng bằng sông Cửu long;
nhưng dự án ấy đã bị Cambốt nhỏ với con mắt nghi kỵ - do bắt nguồn từ
ám ảnh
lịch sử vốn đã là thiếu thân thiện giữa hai nước. Cambốt đã không coi vấn đề
tăng lượng hải sản trong hồ Tonle Sap và việc ngăn lũ là quan trọng nên đã từng
tỏ ý không hợp tác và cũng đã nhiều lần dọa rút ra khỏi
Ủy ban nghiên cứu dự án
(1).
Trước cái cảnh đồng sàng dị mộng ấy, các quốc gia hai bên bờ sông Mekong -
trong quá khứ chưa hề có những kinh nghiệm đáng kể về hợp tác về phát triển,
liệu họ có khả năng hay không để tìm ra một mẫu số chung tiến tới xây dựng một
cuộc sống thịnh vượng trong khung cảnh hòa hợp của một cộng đồng
Ðônng Nam Á- không bị chi phối bởi các nước Tây phương, Trung hoa hay Nhật bản từ bên ngoài và cũng không bị khống chế bởi chính hai nước lớn bên trong như Thái lan hay
Việt nam.
CHỈ CÒN ỦY BAN MEKONG LÂM THỜI: Ủy Ban Sông
Mekong từ ngày thành lập tới nay cũng đã trải qua những bước thăng trầm song
song với những cơn bão táp chính trị ở trong vùng. Trong thời kỳ Khmer
Ðỏ, Cambốt đã không tham dự các cuộc họp của Ủy ban. Tiếp theo đó chính phủ Nam vang
do Việt nam hậu thuẫn đã không được Thái lan nhìn nhận. Do đó mà
Ủy ban sông
Mekong đã hoạt động một cách hạn chế dưới hình thức lâm thời (interim) không có sự hiện diện của Cambốt.
Cũng trong thời gian nầy Thái lan đã có
ý định chuyển dòng chính sông Mekong
nhằm đưa một lượng nước lớn bơm tưới cho cho cả một vùng đông bắc Thái - dự
án
nầy là của riêng Thái lan không nằm trong kế hoạch nghiên cứu và quyết định của
Ủy ban sông Mekong, có nghĩa là không được chấp thuận bởi các quốc gia hạ nguồn
là Lào, Cambốt và Việt nam (4).
Vào cuối năm
1991, Cambốt yêu cầu được tái gia nhập Ủy ban sông Mekong nhưng đã gặp sự chống
đối bất ngờ của Thái lan với thâm ý là kéo dài thời thời gian có lợi cho Thái.
Ðồng thời Thái lan cũng lại phủ nhận tính chất pháp lý của Ủy ban sông Mekong
trước năm 1975 viện lý do tình hình đã thay đổi và cần duyệt xét lại nguyên tắc
điều hành và thành phần của Ủy ban. Ðiều gây cấn với Thái là kế hoạch chuyển
dòng khai thác nước từ sông Mekong đã gặp phải sự chống đối của Việt nam. Nhưng
Thái vẫn khăng khăng với kế hoạch của mình và
vào phút chót đã đơn phương hủy bỏ
cuộc họp của Ủy ban sông Mekong tại Chiang Mai vào đầu năm 92, trong khi phái đoàn Việt nam đã tới Thái lan, đã
gây một khủng hoảng ngoại giao giữa hai nước.
Thái lan đã lại đạo diễn cho một hội nghị khác bao gồm cả Miến điện và Trung
quốc để tìm kiếm sự hậu thuẫn của hai nước
nầy cho dù họ chưa hề là thành viên của Ủy ban sông Mekong và là hai nước ở phía thượng nguồn. Bởi lý do đó Việt nam
đã từ chối tham dự hội nghị nầy.
Trong điều kiện chia rẽ như vậy,
Ủy ban sông Mekong hầu như bị tê liệt. Thời
gian nầy sẽ có lợi nhất thời cho Thái lan trong khi theo đuổi mục tiêu riêng rẽ
của họ.
TỪ ỦY BAN LÂM THỜI TỚI HỘI
ÐỒNG SÔNG
MEKONG: Từ 1959,
Liên hiệp quốc và Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ thành lập tổ chức
EGAT (Electric Generating Authority of Thailand) và EDL (Electricite du Laos)
với mục đích tăng sản xuất và phân phối điện tại Thái và
Lào, và EGAT cũng là cơ
quan chính từ nước ngoài đề xuất việc phát triển thủy điện trên các nhánh phụ
lưu trong nước Lào. Do nhu cầu phát triển kinh tế và kỹ nghệ rất nhanh của Thái
(10% trong khoảng thập niên 81-91) nên cần thêm nhiều nguồn năng lượng điện, và
Lào thì ước muốn được xuất cảng điện để cóngoại tệ (dự trù thu về 350 triệu Mỹ
kim mỗi năm kể từ năm 2010) đó là những động lực mạnh mẽ thúc đẩy các kế hoạch
phát triển thủy điện rộng khắp trong vùng hạ lưu sông Mekong.
Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây, giai đoạn trước hội nghị năm 1992 nhằm thông
qua sự tái gia nhập của Cambốt và phục hồi hoạt động của Ủy ban sông Mekong, bộ
Ngoại giao Thái đã đe dọa rút ra khỏi Ủy ban bởi vì kế hoạch đổi dòng sông
Mekong của Thái để dẫn thủy về vùng đông bắc Thái đã bị các hội viên khác chống
đối nhất là từ phía Việt nam.
Ngày 05 tháng 04 năm 1995, 4 nước hội viên gốc của
Ủy ban Sông Mekong (1957)
(đại diện cho Việt nam là bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm) cùng ký
"Hiệp định hợp tác phát triển bền vững vùng Hạ lưu sông Mekong" và
đổi sang
một tên mới là Hội đồng Sông Mekong (The Mekong Commission) và đồng thời phục
hồi quyền hạn của Ủy ban Kế hoạch Vùng.
Một thay đổi có thể gọi là cơ bản trong Hiệp định mới nầy là- thay vì mỗi
hội viên có quyền phủ quyết (veto power) ngăn chặn bất cứ một dự
án nào có gây ảnh hưởng tai hại tới dòng chính sông Mekong - thì nay trong chương nội quy mới
không cho một thành viên nào có quyền phủ quyết như vậy và cả trong ngôn từ để
chuẩn y các dự án cũng rất là mơ hồ.
Có thể nói đây là bước lùi hay thiếu cảnh giác nghiêm trọng về phía Việt nam
khi đặt bút ký hiệp định thư nầy vì ai cũng biết Việt nam là nước ở cuối hạ
nguồn sẽ phải chịu những hậu quả nặng nề về
ô nhiễm và mất cân bằng về môi sinh nếu Thái lan vẫn cứ đơn phương vội vã thực hiện các kế hoạch của mình.
Trước tốc độ phát triển nhanh đến chóng mặt ấy, thì
đây là một bài toán phức
tạp không dễ dàng có lời giải đáp từ phía Việt nam; nhưng nếu là giới lãnh
đạo được coi là có trách nhiệm thì sẽ không thể chỉ có thái độ "chờ xem - wait
and see" trước hành động khuynh loát từ phía Thái lan. (06/97)
NGÔ THẾ VINH
- Tài Liệu Tham Khảo: The Mekong Committee: A New Genus of International Organization; Somporn
Sangchai, Indiana Univ.1967.
The Mekong Project: Opportunities and Problems of Regionalism; Franklin P.
Huddle; U S House of Representatives; Wash. Govt. Print. Off.1972.
Mekong, Apres le Degel: Serie Monde H.S. 1992.
Lessons Unlearned: Damming the Mekong River; Rothert S.; Intl. Rivers
Network Working Oct.1995.
Silenced Rivers; Patrick McCully, Zed Books Ltd. London 1996.
Author: NGO THE VINH is a novelist and physician; former editor of Tinh
Thuong Magazine, former chief surgeon of the 81st Airborne Ranger Group ARVN. He
authored 4 books published in Saigon before 1975.Mat Tran O Saigon (Battlefield
in Saigon) is a short-story collection published by Van Nghe in the United
States (1996). He currently resides in Southern California and is a staff internist, asst.clin.prof. UCI College of Medicine. His current field of interest
includes: Public Health & the Environmental Aspects of the Mekong Delta and
the Developmental Implications.