NGUY   ĐỘNG ĐẤT

TỪ NHỮNG CON ĐẬP VÂN NAM

Gửi Nhóm bạn Cửu Long

The upper Mekong Basin is an earthquake zone…

It is feared, earthquakes may occur if dams are

built in the upper Mekong Basin _  Hiroshi Hori [1]

NGÔ  THẾ  VINH

 

An toàn của các con đập thủy điện phải là mối quan tâm hàng đầu, nhất là đối với những con đập cao và hồ chứa nước lớn như chuỗi những con đập bậc thềm Vân Nam. Mối e ngại lại càng gia tăng khi con đập được xây trên vùng địa chất được coi là không ổn định hay thường xảy ra động đất.

Theo giáo   Shunzo Okamoto thuộc đại học Tokyo th́ sức nước hăm ép của hồ chứa có thể gây động đất nhất là nơi mà “tiềm năng lượng động đất” (potential earthquake energy) đă tích lũy ở mức cao. [1]

Điển h́nh là Nhật Bản vốn nằm trên vùng địa chất không ổn định thường xảy ra các trận động đất, nên mỗi dự án xây đập đều được khảo sát thật chu đáo trên mọi khía cạnh nhất là địa chất với những hồ sơ theo dơi các trận động đất lớn nhỏ và hoạt động của núi lửa và cả xác định xem có rănh nứt dưới lớp địa tầng hay không. Do đó đă có một số công tŕnh nghiên cứu nghiêm chỉnh ở Nhật liên quan tới “xây đập gây hậu quả động đất”.

Giáo sư Seiji Otake nguyên giám đốc nghiên cứu về động đất của Trung Tâm Quốc Gia Pḥng Tránh Thiên Tai Nhật Bản đă đưa ra nhận định: có tới 90 phần trăm xác suất là các hoạt động địa chấn gia tăng ở vùng có những con đập cao hơn 100 mét. [1]

Đă có rất nhiều tường tŕnh về các trận động đất do xây đập gây ra: cả ở vùng ôn đới các quốc gia kỹ nghệ và ở vùng nhiệt đới các nước đang phát triển.

Các nhà khoa học địa chất khảo sát những con đập lớn nhận thấy sức nặng thường trực của khối nước khổng lồ trong hồ chứa đă gây ra t́nh trạng mất cân bằng địa chấn, gây đứt đoạn lớp địa từng dưới đáy có thể làm vỡ cấu trúc toàn con đập_ mà người gọi   các trận “ĐỘNG ĐẤT DO HỒ CHỨA_reservoir triggerred seismicity”.

Đă có những trận động đất gây ra do hồ chứa làm chấn động dư luận thế giới. Như hồ chứa Đập Aswan High_ Ai Cập khi lấy đầy nước; th́ sau đó các trận động đất M4.7_ [3/82], M4.3_ [2/83] đă xảy ra trên một vùng đất mà trước 1980 chưa hề có ghi nhận một cơn địa chấn nào. Tại Trung Quốc, gần tỉnh Quảng Đông, có con đập Tân Phong Giang / Xinfengjian cấu trúc giống đập Aswan đă bị một  cơn địa chấn M6.1 vào năm 1961. Các trận động đất khác do hồ chứa cũng đă xảy ra với con đập Koina_ Ấn Độ M5.5_ [9/67], M6.3_[12/67] làm nứt thành đập và khiến hơn 180 người chết}.

 

LƯU VỰC DƯỚI SÔNG MEKONG TH̀ YÊN TĨNH

Con đập lớn Pa Mong tuy chỉ mới h́nh thành trên dự án nơi Lưu Vực Dưới sông Mekong [Lower Mekong Basin], nhưng các chuyên gia Ủy Ban Sông Mekong đă hết sức thận trọng nghiên cứu về hậu quả có thể gây động đất do dung lượng lớn của hồ chứa. Các cuộc khảo sát địa chất cũng đă phát hiện ra các đường nứt_ faults, trong số đó có đường nứt Ban Ang (Ban Ang fault) chạy ngang dưới vùng xây đập Pa Mong, nhưng đó chỉ là những đường nứt cũ và không c̣n hoạt động / inactive. Và cho tới nay chưa có một cơn địa chấn nào ghi nhận được nơi dự trù xây đập Pa Mong.

[Tưởng cũng nên nói qua về Dự Án Đập Pa Mong, đó là con đập lớn giữa biên giới Thái Lào trên ḍng chính sông Mekong trong hệ thống đập nơi Lưu Vực Dưới sông Mekong với hồ chứa dài hơn 300 km sẽ d́m sâu trong đáy nước một vùng đất đai nhà cửa của khoảng 60 ngàn cư dân nhưng sẽ cung cấp nguồn điện trên 2,000 MW đồng thời cải thiện thủy lộ giao thông, tạo sức bật phát triển kinh tế cho toàn vùng đông bắc Thái Lan và Lào].

Cho dù có một số suối nước nóng nơi Lưu Vực Dưới sông Mekong nhưng hầu như  đă không có hoạt động địa chấn nào trên vùng đất này. [1]

 

LƯU VỰC TRÊN SÔNG MEKONG TH̀ XÁO ĐỘNG

Lưu Vực Trên sông Mekong [Upper Mekong Basin] là vùng nhiều núi lửa và rất thường xảy ra những cơn động đất, như  gần rặng Arakan Bắc Miến Điện nơi có các ngọn núi lửa Pu Fai Yai và Pu Fai Noi cao hơn cao nguyên Muang Hongsawadi từ 60 - tới 90 mét. Vào năm 1990, một trận động đất M6 đă xảy ra gần nơi xây đập Xiaowan trên ḍng chính Lan Thương Giang_ tên Trung Quốc của con sông Mekong.

 

[Con đập Mẹ Vĩ Đại Xiaowan vừa được khởi công 04/2001 chỉ đứng thứ hai sau con đập Tam Giáp [Three Gorges Dam] lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử. Đập Xiaowan với công suất 4,200 MW là con đập cao nhất thế giới 292 mét tương đương với ṭa nhà chọc trời cao 100 từng với dung lượng hồ chứa lên tới 15 tỉ mét khối nước lấy từ con sông Mekong, dự trù bắt đầu hoạt động từ năm 2010 và đạt toàn công suất năm 2013, sẽ cung cấp điện cho tỉnh Quảng Đông và các tỉnh cận duyên Trung Quốc].

 

Hiroshi Hori là một chuyên gia uy tín về sông Mekong, từng làm việc cho Liên Hiệp Quốc trong Ủy Ban Sông Mekong trụ sở ở Bangkok trong thập niên 60s (1964-1969) đặc trách Kế Hoạch Lưu Vực Sông Mekong  [Indicative Mekong River Basin Plan]. Sau đó ông giữ chức vụ tham vấn cho Ngân hàng Phát Triển Á Châu [ADB / Asian Development Bank], đại diện cho Chương Tŕnh Phát Triển Liên Hiệp Quốc [UNDP / United ations Development Plan] ở New York. Đồng thời ông cũng là chủ tịch Uûy Ban Nghiên Cứu Sông Mekong  của Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật bản [JICA / Japan International Cooperation Agency]. Ông cũng là tác giả của nhiều bài nghiên cứu kinh điển và các cuốn sách như  Technology Society_ Pergamon Press 1990”, “Conflicts and Opportunities Concerning Development and the Environment in the Mekong  Basin_ IWRA 1998”. 

Trong cuốn sách The Mekong: Environment and Development [United Nations University Press, Tokyo 2000].  Hiroshi Hiro đă đưa ra nhận xét:

Lưu Vực Trên Sông Mekong là vùng động đất, với những chuyển động địa chấn đáng kể nên người ta có lư do để sợ rằng động đất sẽ xảy ra khi xây những con đập nơi Lưu Vực Trên Sông Mekong. [1]

 

ĐẶC TÍNH ĐỘNG ĐẤT DO ĐẬP GÂY RA

Có thể phân loại các trận động đất do xây đập gây ra như sau:

Sức nước hăm nén trong hồ chứa trên vùng động đất làm gia tăng những cơn địa chấn do thay đổi mực nước và dung lượng hồ chứa.

Động đất vẫn xảy ra khi hồ chứa được xây trên vùng chưa có động đất trước đó.

Động đất xảy ra sau khi hồ chứa lấy đầy nước, với nhịp độ / frequency và biên độ / magnitude gia tăng với thời gian.

Vị trí các Tâm Địa Chấn (seismic centres)  thể nằm ngay trong khu hồ chứa, gần chu vi hay bên ngoài hồ chứa.

 

THEO DƠI PHÁT HIỆN PH̉NG TRÁNH

Khi mà động đất do hồ chứa xảy ra tại các quốc gia kém mở mang th́ mức thiệt hại sẽ tăng gấp bội so với các quốc gia kỹ nghệ v́ các cơ sở xây cất nhà cửa không đạt tiêu chuẩn chống động đất.

Do đó việc theo dơi phát hiện và pḥng tránh động đất do hồ chứa phải là mối ưu tiên hàng đầu của các kỹ sư xây đập. Trong ngân sách xây đập phải bao gồm cả ngân khoản để trang bị mạng lưới các trạm theo dơi động đất [network of seismological stations]. Việc theo dơi phải liên tục trong suốt quá tŕnh xây đập hay ít ra cũng phải được thiết kế đưa vào hoạt động trước khi bắt đầu lấy nước vào trong hồ chứa. [1]

 

NHỮNG KHẢO SÁT MỚI NHẤT VỀ ĐỘNG ĐẤT DO XÂY ĐẬP  

Theo tiến sĩ T. Vladut thuộc nhóm Nghiên Cứu Môi Sinh Thủy Học Canada_ Hydro Environmental Research Group [1993] th́ đă có hơn 2,000 bài viết về Động Đất gây ra do các con đập và hồ chứa. Khảo duyệt tất cả các công tŕnh nghiên cứu ấy, Vladut đă đi tới kết luận:

1._ Từ thập niên 1930 [1932] người ta bắt đầu biết tới về mối liên hệ Động Đất với con đập Qued Fodda ở Algeria. Sang thập niên 1940 [1945] người ta đă lại quan tâm hơn tới mối liên hệ giữa độ sâu của hồ chứa con đập Hoover ở Mỹ với các trận động đất xảy ra sau đó.

2._ Từ năm 1932,  trong số hơn 120 con đập trên thế giới người ta ghi nhận được những trận Động Đất xảy ra  hoặc do nước hăm nén trong hồ chứa (water impoundment),  hoặc khi hồ chứa hoạt động (reservoir operation).

3._ Có nhiều khả năng Động Đất xảy ra nơi con đập cao hơn 100 mét hoặc khi dung lượng hồ chứa lớn hơn 1 x 109 m3 .

 

LỊCH SỬ H̀NH THÀNH CHUỖI ĐẬP  VÂN NAM 

Các dự án khai thác sông Mekong của Trung Quốc đă có từ thập niên 70 trong thời kỳ c̣n bức màn sắt cô lập đất nước này với thế giới bên ngoài. Kể từ khi Trung Quốc bắt đầu mở cửa măi tới năm 1989 người ta chỉ mới được biết sơ qua các dự án thủy điện Vân Nam qua một cuốn sách duy nhất của Vân Nam Nhân Dân Thư Xă  ấn bản tiếng Trung Hoa dày 608 trang nhan đề “Lan Thương Giang: Tiểu Thái Dương” gồm 45 bài viết về các đề tài khác nhau nhưng tựu chung là chỉ đề cập tới những lợi lộc về thủy điện và nguồn nước của chuỗi 8 con đập bậc thềm trên sông Mekong tỉnh Vân Nam với tổng số công suất  lên tới 15,400 Megawatt tổn phí dự trù là 7.7 tỉ  $US. [4]

 

Tuy đă có kế hoạch rất hấp dẫn khai thác sông Mekong rất sớm từ những năm 70 nhưng v́ “thiếu ngân sách” nên măi tới năm 1980 con đập Manwan đầu tiên cao 99 mét với bức tường thành cao 35 tầng mới được khởi công và 13 năm sau th́ xây xong  (1993) và ngay sau đó cảnh thiếu điện tối tăm của Vân Nam và thủ phủ Côn Minh đă trở thành quá khứ.  Khi hoàn tất  chuỗi đập Vân Nam này, Trung Quốc sẽ dư khả năng điện khí hóa toàn các tỉnh phía nam và phía đông cận duyên của Trung Hoa. Cuốn sách cũng đề cập tới tiềm năng sông Mekong như một thủy lộ để đi về phương nam.

Nhưng điều đáng nói là cả cuốn sách không có bài viết nào nghiên cứu về hậu quả “có thể chấp nhận được hay không” của chuỗi các con đập ấy đối với 5 nước vùng hạ lưu là Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam. Như từ bao giờ Trung Quốc th́ luôn luôn giấu kín nhẹm các kế hoạch chiến lược khai thác sông Mekong của họ – như một thứ bí mật quân sự. Lê Quang Minh, Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Cần Thơ  Đồng Bằng Sông Cửu Long đă phải than thở: “Thật khó để có được thông tin từ phía Trung Quốc. Điều ấy khiến chúng tôi thật sự lo ngại”. [3]

Bây giờ là năm 2002, tưởng cũng nên cập nhật hóa. Theo tài liệu chính thức của Tỉnh Ủy Vân Nam, th́ không phải chỉ có TÁM  con số đă lên tới MƯỜI BỐN con đập trên ḍng chính khúc thượng nguồn sông Mekong chưa kể vố số những con đập phụ lưu. [1]

Tên 14 con đập theo thứ tự từ bắc xuống nam đó là 1/ Liutongsiang, 2/ Jiabi, 3/ Wunenglong, 4/ Tuoba, 5/ Huangdeng, 6/ Tiemenkan, 7/ GUONGGUOQIO, 8/ XIAOWAN_ khởi công 2001, 9/ MANWAN_ hoàn tất 1993, 10/ DAICHAOSHAN / Đại Chiếu Sơn_  khởi công 1996, 11/ NUOZHADO, 12/ JINGHONG / Cảnh Hồng_ khởi công 1998, 13/ Gunlanba, 14/ MONGSONG.  [Sơ Đồ ] 

 

ĐÂU LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHUỖI ĐẬP VÂN NAM

_ 14 con đập và dự án đập Vân Nam nằm trong Lưu Vực Trên sông Mekong được coi là vùng địa chất không ổn định và thường có động đất. Điển h́nh là vào năm 1990, một trận động đất M6 đă xảy ra nơi khu vực xây con đập Mẹ   Đại Xiaowan.

_ Theo tiêu chuẩn của tiến sĩ T. Vladut có nhiều khả năng Động Đất xảy ra nơi con đập cao hơn 100 mét hoặc khi dung lượng hồ chứa lớn hơn 1 x 109 m3: ít nhất SÁU trong MƯỜI BỐN con đập Vân Nam hoặc có chiều cao hoặc dung lượng hồ chứa lớn hơn giới hạn an toàn của Vladut.

     

TÊN ĐẬP:          CHIỀU CAO / MÉT     DUNG LƯỢNG HỒ / MCM       CÔNG SUẤT / MW

Gongguoqiao              130                                     510                                  750 

Xiaowan                      292                                15,130                               4,200

Manwan                      132                                     920                               1,500

Dachaosan                  118                                     890                                1,350

Nuozhadu                   260                                22,740                                5,500

Jinghong                     107                                  1,230                                1,500

 

[Tài Liệu của Wang Shui, Giám Đốc Kế Hoạch Lan Thương Giang Vân Nam] [5]            

 

_ Liệu đă có những công tŕnh nghiên cứu nào nghiêm chỉnh của Trung Quốc về t́nh trạng địa chất dọc theo con sông Lan Thương_ tên khúc sông Mekong chảy qua Trung Quốc là nơi sẽ mọc lên 14 con đập khổng lồ Vân Nam?

Có rất nhiều lư do để tin là không, bởi v́ “mỗi con đập có những đặc tính địa chất duy nhất của nó, mà để hiểu biết cho tới nơi những đặc tính ấy th́ tốn rất nhiều thời gian và tổn phí lên tới nhiều triệu đôla cho những cuộc khảo sát ấy _ McCulley, P.”[2] trong khi Trung Quốc không chỉ thiếu tiền mà c̣n vội vă đạt chỉ tiêu kế hoạch khai thác thủy điện chiến lược của họ.

Hoặc giả nếu có cái gọi là công tŕnh nghiên cứu địa chất trên giấy tờ th́ chúng ta cũng có thể biết trước rằng có “những dữ kiện địa chất dù biết trước là bất lợi cũng sẽ bị làm ngơ hay bỏ qua”.

Theo một nghiên cứu năm 1990 của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) th́ trong số 49 dự án xây đập thủy điện, có hơn 3/4  số đập gặp phải những “vấn đề về địa chất không tiên liệu được_ unexpected geological problems”. Và cuộc khảo sát ấy đă đưa tới kết luận khá bi quan rằng đối với các con đập thủy điện  nếu không gặp các vấn đề trở ngại về địa chất th́ phải được coi đó như một ngoại lệ chứ không phải là sự  kiện b́nh thường”. [2]

Trước những khiếm khuyết và bất trắc ấy, liệu trên đồ án mỗi con đập Vân Nam Trung Quốc có bao gồm thiết kế mạng lưới các trạm theo dơi động đất [network of seismological stations] để liên tục ghi nhận các dao động địa chấn trong suốt quá tŕnh xây đập hay ít ra cũng phải được thiết kế đưa vào hoạt động trước khi bắt đầu lấy nước vào trong mỗi hồ chứa hay không?   

An toàn của các con đập, liệu có bao giờ  mối ưu tư của các “Công Tŕnh Sư Đại Hán” khi h́nh thành dự án Chuỗi 14 Con Đập Bậc Thềm Vân Nam? Đă đến lúc nước lớn Trung Quốc có lương tri phải tỏ ra có trách nhiệm với chính cư dân của họ và hàng trăm triệu cư dân của các quốc gia hạ nguồn bằng cách công khai hóa những kế hoạch xây đập của họ. Đành rằng chẳng có cách nào để ngăn Trung Quốc không tiến hành

giấc mơ điện khí hóa vĩ đại của họ nhưng ở một chừng mực nào đó th́ những khiếm khuyết và thiếu an toàn trong mỗi dự án phải được biết tới, theo dơi và bổ sung. Mà điều đó chỉ có được khi Trung Quốc chịu công khai hóa kế hoạch khai thác sông Mekong của họ.

 

Không phải là hư cấu để không nh́n thấy những hồ chứa nước khổng lồ của chuỗi đập Vân Nam có thể là thứ vũ khí môi sinh chiến lược kinh hăi mà Bắc Kinh có thể một ngày nào đó nghĩ tới sử dụng hoặc “gây đại hạn” hoặc gây ra “trận hồng thủy” có sức hủy hoại ghê gớm_ khi cần sẽ cho một nước hạ nguồn bướng bỉnh như Việt Nam “một bài học_ lần này th́ là một bài học để đời”.

Và cũng lại không hoàn toàn là hư cấu khi nghĩ tới t́nh huống Trận Động Đất_ induced earthquake do các hồ chứa khổng lồ Vân Nam trong Lưu Vực Trên Sông Mekong. Lần này th́ do sự kiêu căng, tham lam và thiển cận của Con Người đă không c̣n làm chủ được khoa học kỹ thuật của ḿnh. Sức tàn phá khủng khiếp của Cơn Hồng Thủy Vỡ Đập sẽ cuốn đi bao nhiêu thành phố và bao nhiêu vạn sinh linh của Vân Nam và nơi các quốc gia hạ lưu?

Bước sang thập niên đầu của Thế Kỷ 21, chuỗi 14 Con Đập Bậc Thềm Khổng Lồ Vân Nam sẽ là lưỡi gươm Damoclès buộc trên sợi chỉ mành thường trực treo trên đầu trên cổ cư dân của năm quốc gia hạ nguồn là Miến Điện Thái Lan Lào Cam Bốt và Việt Nam.

Dù con đường c̣n lắm chông gai, nhưng việc phấn đấu để tiến tới một “Ủy Hội Sông Mekong Mở Rộng” bao gồm cả Trung Quốc và Miến Điện là bước tiên quyết để có một cơ quan điều hợp hữu hiệu cho toàn vùng trong kế hoạch vĩ mô “Phát Triển Bền Vững” nguồn tài nguyên phong phú của con sông Mekong.

 

NGÔ  THẾ  VINH

04 - 02

Tham Khảo:

1/ Hiroshi Hori. The Mekong: Environment and Development. United Nations University Press, Tokyo 2000.

2/ Patrick McCully. Silenced Rivers: The Ecology and Politics of Large Dams. Zed Books, Ltd. London 1996.

3/ Shawn W. Crispin, Margot Cohen, Bertil Lintner. The mekong Choke Point. Far Eastern Economic Review, Oct 12, 2000.

4/ E.C Chapman, He Daming. Downstream Implications of China’s Dams on the Lancang Jiang and their Potential Significance for Greater Regional Cooperation, Basin-Wide. Workshop Proceedings, Melbourne Oct 12, 1996.

5/ Wang Shui. The Lancang Jiang basin: Steps Towards the Realisation of Sustainable Development. Worshop Proceedings, Melbourne Oct 12, 1996.