VÀ CON SÔNG
“A POSSE AD
ESSE – TỪ KHẢ NĂNG TỚI HIỆN THỰC”
NGÔ
THẾ VINH
LTS:Trong năm 2000, nhà văn Ngô Thế Vinh đã gửi đến
chúng ta một tác phẩm đồ sộ Cửu Long
Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, với những tài liệu liên quan
tới sự suy thoái hệ sinh thái của con sông Mekong và Đồng Bằng Sông
Cửu Long một khi chuỗi 14 con đập khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc
hoàn tất. Lời báo động của ông và Nhóm Bạn Cửu
Long được hưởng ứng rộng rãi trong tập thể Việt
LÀM GÌ
GIỮA HAI CỰC
ĐOAN
Từ 1995, báo chí
tiếng Việt ở hải ngoại đã liên tục đăng những bài viết có tính
cách báo động về các kế hoạch khai thác sông Mekong đưa tới cạn
kiệt nguồn tài nguyên và hủy hoại hệ sinh thái toàn lưu vực_ trong
đó có Đồng Bằng Sông Cửu Long. Điển hình là kế hoạch xây chuỗi 14
con đập thủy điện bậc thềm khổng lồ Vân Nam trên dòng chính sông
Mekong của Trung Quốc càng khiến mọi người thêm lo ngại. Từ đó nảy
sinh ra hai phản ứng hoàn toàn trái ngược:
_ Thái độ cam
chịu, biết thế đấy nhưng nghĩ rằng chẳng thể làm được gì trước sức
mạnh và thái độ ngang ngạnh của Trung Quốc.
_ Phản ứng giận
dữ và nghĩ rằng một cuộc “chiến
tranh vì nước” với Trung Quốc để sống còn
là không thể nào tránh dù rằng đó là một cuộc chiến hoàn
toàn không cân sức.
_ Giữa hai cực
đoan ấy, liệu chúng ta có thể tìm ra một giải pháp dung hợp bằng cái
nhìn thực tiễn, còn nước còn tát_ nghĩa là nhìn nửa phần đầy của ly
nước thay vì nửa vơi.
_ Bài viết này
phản ánh cách nhìn dung hợp thứ ba_ làm thế nào để “giới hạn và
giảm thiểu tổn thất / control damage” và đó cũng là quan điểm của
người viết khi bàn về chức năng của Viện Đại Học Cần Thơ.
14 CON
ĐẬP VÂN
Trước hết để
có một ý niệm về tầm vóc của chuỗi đập Vân Nam, ta hãy so sánh với một công trình vĩ đại khác của Mỹ:
Tennessee Valley Authority / TVA.
Số đập Vân Nam
là 14 trong khi TVA chỉ có 9; độ dốc / elevation differential của
chuỗi đập Vân Nam là 1,500 mét_ 12 lần cao hơn chuỗi đập TVA; tổng công suất chuỗi đập Vân Nam gấp
13 lần tổng số công suất 9 con đập
TVA. Như vậy đối
chiếu với chuỗi đập bậc thềm Vân
Tuy là một công trình lớn lao như thế nhưng như từ bao giờ
Trung Quốc luôn luôn giấu kín nhẹm các kế hoạch chiến lược khai thác
sông
Tiến sĩ Hiroshi
Hori_ một chuyên gia uy tín quốc tế và lâu năm của Uûy ban Sông Mekong
khi viết tới chương sách về dự án phát triển đập nơi Lưu Vực Trên
sông Mekong [Upper Mekong Basin] đã phải thú nhận: “Trong suốt một
thời gian dài, đã không có cách
nào biết được tình hình phát triển nơi Lưu Vực Trên Sông Mekong_ For a
long time, there was no way of knowing the development situation in the upper
Mekong basin” cho dù bản thân ông đã phải đích thân tới Vân Nam
để khảo sát thực địa năm 1994 [đập thủy điện đầu tiên Manwan 1,500 MW
hoàn tất năm 1993, nghĩa là trước đó một năm]. Như vậy thì chúng ta cũng chẳng ngạc
nhiên khi phải nghe Lê Quang Minh nguyên dân biểu quốc hội, Phó Viện
Trưởng Viện Đại Học Cần Thơ Đồng Bằng Sông Cửu Long than thở: “Thật
khó để có được thông tin từ phía Trung Quốc. Điều ấy khiến chúng
tôi thật sự lo ngại”.[3]
Thụ động, lo ngại_ rồi sao nữa? Không lẽ cứ tiếp tục ngồi than thở thì Bắc Kinh sẽ thấy
ái ngại mà cung cấp cho mọi thông tin mà chúng ta đang cần.
Cũng có đấy
chứ, một số
thông tin đến từ phía Trung Quốc, nhưng đó chỉ là những liều thuốc
ngủ , “những dữ kiện màu hồng có tính cách giai thoại_ annecdotal.”
Điển hình là mới đây Bộ Điện Lực Trung Quốc /
Ministry of Electric Power đã cùng một lúc cung cấp một số tài
liệu Made in China cho mấy
nước hạ nguồn về hiệu quả tích cực của các con đập Vân Nam đối với
toàn lưu vực sông Mekong không ngoài mục đích trấn an; họ còn gửi tới các quốc gia kỹ nghệ
phát triển trong đó có Nhật Bản để mong tìm thêm nguồn tài trợ cho
các dự án lớn lao của họ. [1]
Theo Bộ Điện
Lực Trung Quốc thì:
_ Năm 1995 Tổng
Công Suất của cả nước là 150 x 106
kW
trong đó chỉ có 25% là thủy điện, phần còn lại nhiệt điện từ
than đá và từ lò nguyên tử. Dự trù nhu cầu điện sang năm 2000 sẽ
tăng gấp đôi trong khi tiềm năng Thủy Điện TQ
[400 x 106 kW] mới chỉ
được khai thác chưa tới 10%.
Và khi mà những
con đập Vân Nam được coi như yếu tố tạo sức bật cho các bước canh
tân nhảy vọt của Trung Quốc thì theo Dai Qing nhà hoạt động môi sinh
nổi tiếng cũng là tác giả cuốn sách “The River Dragon Has Come” đã có
nhận định là “Trung Quốc sẽ không có một thay đổi nào trong kế hoạch khai thác
sông Mekong của họ cho dù ảnh hưởng tác hại ra sao đối với các quốc
gia dưới nguồn.” Bắc Kinh đã hành sử như chính mình sở hữu toàn
4,500 km chiều dài con sông Mekong_ vốn là một con sông quốc tế.
Từ thời Uûy Ban
Sông Mekong / Mekong River Committee [1957]_ tiền thân của Uûy Hội Sông
Mekong [1995], đã có một hệ thống khí tượng thủy văn [hydrometeorological
network] hoạt động nơi lưu vực dưới sông Mekong. Ban đầu chủ yếu
chỉ để theo dõi lưu lượng dòng chảy [river flow] và mực nước cao
thấp [water level], sau đó những dữ kiện bằng số ấy được thu
thập chuyển về trụ
sở Văn Phòng Thường Trực của Uûy Ban để phân tích nhằm đưa ra những
biện pháp phòng tránh hay giảm thiểu những tác hại về lũ lụt hay
hạn hán cho bốn nước hạ lưu.
Nhưng trước viễn
tượng hình thành trên khúc sông thượng nguồn chuỗi 14 con đập thủy
điện khổng lồ Vân Nam với kỹ nghệ hóa, đô thị hóa, trút đổ các
chất phế thải kỹ nghệ xuống sông thì rõ ràng hệ thống theo dõi ban
đầu này là rất thiếu sót.
Chính vì thế mà
Hiroshi Hori đã đề nghị với Ủy Hội Sông Mekong phải cải thiện và nâng cấp hệ thống
khí tượng thủy văn sao cho có khả năng theo dõi không chỉ về lượng
mà cả về phẩm chất nước của mỗi khúc sông trong toàn lưu vực_ quan
trọng nhất là “những yếu tố biến động về phẩm chất nước” đổ
xuống từ khúc sông thượng nguồn.
[1]
Chức năng của
trung tâm theo dõi mới này là mỗi khi phát hiện được những “thông
số hay dữ kiện bất thường” thì phải thông báo ngay cho các quốc
gia trong lưu vực với yêu cầu xác định nguyên nhân. Giả thiết nguyên
nhân tìm thấy là do hậu quả sinh hoạt của các khu kỹ nghệ trên
thượng nguồn thì quốc gia liên hệ phải có trách nhiệm tìm ngay biện
pháp ngăn chặn. Bằng không thì cơ quan chức năng cao nhất của Uûy Hội
Sông Mekong và cả những chánh phủ trong lưu vực phải có phản ứng tích cực và kịp thời
tìm ra những phương cách giải quyết bằng con đường chánh trị ngoại giao
và cả công pháp quốc tế.
Khi mà các dự
án đập lớn nơi Lưu vực Dưới sông
Mekong [như dự án đập Pa Mong, Sambor…] đã trở thành quá xa vời do
chống đối của các tổ chức bảo vệ môi sinh và của cả chính cư dân
trong lưu vực_ khiến các nguồn tài trợ bị ngưng lại chưa biết tới bao
giờ, trong khi nơi Lưu vực Trên thì Bắc Kinh đang hối hả thực hiện cho
bằng được dự án 14 con đập của họ _ thì rõ ràng ẩn số của phương
trình sông Mekong vẫn là nước lớn Trung Quốc.
Trong văn bản
thỏa thuận giữa Thái Lan Lào Cam Bốt và Việt Nam khi hình thành Uûy
Hội Sông Mekong [1995], cả bốn nước đều đồng ý hình thành một kế
hoạch phát triển chung cho Lưu vực Dưới sông Mekong. Một kế hoạch
như vậy cho dù đạt được tự nó đã là một thiếu sót; bởi vì
không thể tách rời việc phát triển sông
Trong cuộc khảo
sát kéo dài hai năm (1996 tới 1998) của JICA / Japan International
Cooperation Agency [mà Hirhosho Hori là trưởng nhóm] đã đưa ra những
đề xuất nhằm hướng tới sự cân bằng giữa phát triển và bảo vệ sinh
cảnh môi trường cho toàn lưu vực với những lưu ý như sau:
_ Viện trợ cho
các nước kém phát triển phải dựa trên sự tôn trọng không chỉ với
quốc gia ấy mà cả với các cộng đồng dân cư trong lưu vực với động lực là
thăng tiến cho chính họ. Cần nhấn mạnh là mối quan tâm không chỉ thu gọn trong những hậu quả về vật chất mà phải kể
tới các khía cạnh tâm lý và văn hóa xã hội đối với cư dân địa
phương.
_ Trợ giúp phát triển với quan tâm ưu tiên tới những khía
cạnh về sinh cảnh môi trường của khu vực. Luôn luôn đặt trong tâm vào việc bảo tồn môi trường
thiên nhiên bao
gồm cả việc bảo vệ tính đa dạng của hệ sinh thái / biodiversity. Các dự án đập thủy điện lớn phải được duyệt xét với
tất cả sự nhạy cảm căn cứ trên nhu cầu thiết thực của các cộng
đồng cư dân trong khu vực. [1]
Khi mà lưu vực
sông
Các cơ quan tài
trợ kế hoạch phát triển sông Mekong [như Ngân Hàng Phát Triển Á
Châu /ADB, Ngân Hàng Thế Giới / WB, Cơ Quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc
/ UNDP] cần có một cái nhìn toàn cảnh như vậy khi trợ cấp cho
từng dự án thủy điện trên sông Mekong: bởi vì không phải chỉ có khai
thác nguồn thủy điện từ con sông mà còn cả mối quan tâm tới các
vấn đề thủy lợi, nông lâm / agriforestry, ngư nghiệp và giao
thông; cũng không thể không quan tâm tới ảnh hưởng trên sinh cảnh
môi trường trong chiến lược phát triển bền vững sông Mekong: có nghĩa
là khai thác nhưng vẫn bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và không
gây những xáo trộn xã hội đối với cư dân sông trong lưu vực. Mà điều đó thì hiện nay chưa có được khi Trung Quốc và
Miến Điện là hai quốc gia thượng nguồn vẫn chọn vị thế đứng ngoài.
THÀNH
LẬP NHÓM CHUYÊN VIÊN THAM VẤN
Các kế hoạch
phát triển sông Mekong thường bị chi phối do sự cạnh tranh giữa các
đại công ty ngoại quốc đấu thầu xây đập_ dĩ nhiên vì lợi nhuận họ
rất ít quan tâm tới vấn đề an toàn môi trường và sự an sinh của cư
dân sống hai bên bờ con sông Mekong. Trong khi đó thì các chánh phủ
liên hệ hoặc vì nhu cầu phát triển và quyền lợi trước mắt hoặc vì
thiếu trình độ chuyên môn nên đã dễ dàng thông qua các kế hoạch mà
không đưa ra được những phê phán và tu chính lẽ ra phải có.
Để giải quyết
tình trạng thiếu trình độ chuyên môn ngay trong Uûy Hội Sông Mekong và
các chánh phủ liên hệ, tiến sĩ Hiroshi Hori đã đưa ra đề nghị cấp
thiết thành lập Nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Quốc tế / International
Advisory Group of Experts có trình độ cao và có kinh nghiệm về phát
triển lưu vực các con sông thuộc nhiều lãnh vực kể cả các chuyên
gia về phẩm chất nước. [1] Họ cũng phải quen thuộc và nhạy cảm với
những “vấn đề kinh tế xã hội môi sinh” của cư dân trong lưu
vực ngõ hầu có thể đưa ra những nhận định vô tư và khách quan. Họ
sẽ là một cơ quan tư vấn độc lập làm việc bên cạnh Uûy Hội Sông
Mekong để giải đáp những vấn đề khúc mắc khó khăn liên quan tới
từng dự án phát triển sông Mekong. Để hoàn tất nhiệm vụ ấy, dĩ
nhiên họ phải có đủ thời gian và phương tiện để khảo sát các dữ kiện trên mỗi đồ
án trước khi đưa ra những nhận xét và ý kiến phê phán để gửi qua
văn phòng thường trực của Uûy Hội Sông Mekong để làm cơ sở quyết
định. Những biên bản đề xuất này sẽ không bị tô
hồng hay cắt xén cho dù trái với ý muốn của các đại công ty tư bản
hay chánh phủ liên hệ.
Cách đây 32
năm, trong bài diễn văn “xuất trường” của Viện Đại Học Cần Thơ ,
giáo sư Đỗ Bá Khê đã có một cái
nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này với tương lai vùng Đồng
Bằng Châu Thổ:
“Ngày nay (19/12/1970) trong Thời Đại Khoa Học Kỹ Thuật, các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và
ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng
trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”
THEO
DÕI KHIẾM KHUYẾT VÀ BỔ XUNG
Cho dù không có
phương cách nào có thể ngăn Trung Quốc không tiến hành kế hoạch
điện khí hóa vĩ đại của họ nhưng ở một chừng mực nào đó thì “những
khiếm khuyết và thiếu an toàn trong mỗi dự án xây đập của Trung
Quốc phải được biết tới, để theo dõi và bổ sung.”
Hiển nhiên
không thể thụ động ngồi chờ nguồn thông tin do Trung Quốc tùy tiện cung cấp mà vì lý do sống còn, chúng ta
phải hết sức chủ động đi tìm kiếm những gì mà chúng ta cần biết_ đó
là những dữ kiện khách quan. Điều ấy đòi hỏi cho một chiến lược
bảo vệ môi sinh với tầm nhìn xa, với một đội ngũ chuyên viên không
chỉ có trình độ mà còn có lòng thiết tha với công việc chuyên môn
của họ.
Đại Học Cần Thơ
với Phân Khoa Sông Mekong sẽ là một “think tank” một trung tâm
nghiên cứu giảng dạy và là nguồn cung cấp chất xám.
Một Phân Khoa
Sông
_ Xây dựng một
thư viện chuyên ngành với tất cả sách vở tài liệu trước hết là
liên quan tới con sông
_ Ban giảng huấn
ngoài thành phần cơ hữu của nhà trường, sẽ bao gồm các chuyên gia
của Uûy Hội Sông Mekong, nhóm Chuyên Viên Tham vấn Quốc tế bên cạnh
Uûy Hội Sông Mekong. Họ sẽ được mời như những Giáo Sư Thỉnh Giảng_
Visiting Professor, cho Phân Khoa Sông
NGÔ THẾ VINH
06 – 02
Tham
Khảo:
1/ Hiroshi Hori. The
2/ Patrick McCully. Silenced Rivers: The Ecology and
Politics of Large Dams. International Rivers Network.
Zed Book Ltd,
3/ Shawn W. Crispin, Margot Cohen, Bertil Lintner. The
4/ Milton Osborne. The
5/ Đỗ Bá Khê. Đại Học Cần
Thơ, Ngọn Hải Đăng Miền Tây. Đặc San Tiền Giang - Hậu Giang 2000
6/ Trần Thượng Tuấn. Kỷ Niệm 35 thành lập Đại Học Cần Thơ 1966 – 2001. http://www.ctu.edu.vn
7/ Ngô Thế Vinh. Từ Ủûy Ban Tới Ủy Hội Sông