NGƯỢC D̉NG SÔNG
Ngo
The Vinh.
ABSTRACT: Only some
one hundred years ago, the Western world did not know the source of the mighty
Từ
Tây Tạng tới Việt Nam, dọc theo suốt chiều
dài của con sông Mekong (đứng hàng thứ 3 (7?) của
Châu Á và hàng thứ 12 của cả thế giới) đang
có những dự án xây dựng và phát triển các
đập thủy điện đem lại hy vọng
thịnh vượng cho các quốc gia trong vùng nhưng
đồng thời cũng gây mối e ngại về
những tác hại không thể lường trước
được trên môi sinh.
D̉NG SÔNG ĐỊNH MỆNH:
Câu chuyện sông
VỚI NHỮNG TÊN KHÁC NHAU:
Do con sông
chảy qua những vùng dân cư nói bằng nhiều ngôn
ngữ, có ít nhất 5 ngôn ngữ chính: Hoa, Miến, Thái
(gồm cả Lào),
Nhưng
rồi do ảnh hưởng của Anh Pháp và Thái Lan, tên
sông Mekong được giới chức ngoại giao
chấp nhận trên bản đồ, có lẽ bắt
nguồn từ một tên gốc Thái, theo cách phiên âm của
người Bồ đào nha, với tên gọi Mecon, Mecom
hay Mekong_ có ư nghĩa thơ mộng là “ø mẹ của các
con suối.”
Từ
nay và trong suốt bài này
MỐI QUAN TÂM TỪ SÀI G̉N:
Năm
1860, Pháp đă thiết lập được nền hành
chánh bảo hộ ở Sài G̣n. Nhưng theo báo Courrier de
Saigon lúc ấy th́ cuộc sống những người Pháp
ở đây đă chẳng sáng sủa ǵ: họ luôn luôn
bị đe dọa bởi các bệnh miền nhiệt
đới, nhiều người chết rất trẻ
ở cái tuổi mới ngoài ba mươi v́ những
loại bệnh sốt, sốt rét và kiết lỵ.
Một số người sống sót th́ có thái độ
chịu đựng; nhưng một số khác th́ tỏ
vẻ bất măn về giá trị thương mại
của thuộc địa Nam Kỳ lúc đó nên muốn
t́m tới một triển vọng làm ăn khá hơn cho
chính họ và cho cả nước Pháp và họ bắt
đầu quan tâm tới khả năng khai thác con sông
Mekong. Cũng thời gian đó đă có những cuộc
thảo luận về điều mà họ gọi là “ư
tưởng lớn ”. Người
khởi xướng và hướng dẫn các cuộc
thảo luận đó không ai khác hơn là Francis Garnier lúc
đó mới 24 tuổi đang giữ chức vụ đô
trưởng Chợ Lớn. Là một sĩ quan hải quân
trẻ tuổi vóc người thon nhỏ nhưng lại đầy
tham vọng nên được các bạn đồng sự
gán cho biệt danh “cô gái Nă Phá Luân_ Mademoiselle Bonaparte.” Garnier không
chỉ đam mê với viễn tượng các cuộc
phiêu lưu tới “những vùng chưa biết không thể
cưỡng lại được ấy”, nhưng anh ta
c̣n có niềm tin rằng “một quốc gia như
nước Pháp, mà không có thuộc địa là một
quốc gia chết.” Tới năm 1865, ước muốn
khám phá sông
Doudart de
Lagrée, 42 tuổi, một con người trầm tĩnh,
tốt nghiệp trường Bách Khoa, cũng là sĩ quan
hải quân, lúc đó đang là đại diện của
Pháp ở triều đ́nh Nam Vang từ hai năm.
Francis
Garnier, cá tính đối nghịch với Lagrée, đam mê sôi
nổi, tin tưởng mạnh mẽ ở tiềm
năng sông Mekong như một thủy lộ dẫn
tới sự trù phú của miền nam nước Trung Hoa,
phó đoàn.
Louis
Delaporte, sĩ quan hải quân, 24 tuổi nhạc sĩ tài
tử và là một họa sĩ kư họa mới tới Nam
Kỳ một năm, với nhiệm vụ ghi lại h́nh
ảnh sinh hoạt của đoàn thám hiểm.
Clovis
Thorel và Lucien Joubert không chỉ là hai bác sĩ trong đoàn,
Thorel là nhà nghiên cứu thực vật c̣n Joubert giữ vai
tṛ chuyên viên địa chất.
Louis de
Carné, người trẻ tuổi nhất được
nhập đoàn với tư cách đại diện bộ
ngoại giao Pháp do gốc gác là cháu của La Grandière đang
là thống đốc
Dĩ
nhiên phải kể tới con số 16 người
được tuyển mộ làm thông ngôn và phu phen tháp tùng theo đoàn trong đó có 7 người
Việt
Ngoài vàng
bạc thỏi, đô la và tiền Thái dùng làm lộ phí cho
đoàn, họ c̣n mang theo 150 kiện đồ dùng và
thực phẩm, dĩ nhiên có cả rượu gồm 700
lít rượu vang cộng thêm với 300 lít rượu
mạnh khác.
Họ
khởi hành từ Sài G̣n trong bước đầu của
một cuộc hành tŕnh hoàn toàn êm thấm và đầy
ắp lạc quan tới thủ đô Nam Vang, bắt
đầu một sứ mạng lớn lao
mà Đô đốc hải quân Pháp Paul Reveillère cho là: “Có
tầm vóc xứng đáng với đam mê của thế
kỷ.”
SAMBOR THÁC GHỀNH ĐẦU TIÊN TRÊN
ĐẤT MIÊN:
Năm
1866: ngày 05 tháng 06, đoàn rời Sài G̣n trên một chiến
hạm có vơ trang, khởi đầu đi Kompong Luong ngay
phía bắc Nam Vang, họ cũng đến thăm khu
đền đài Angkor trước khi tới Nam Vang . Ngày
07 tháng 07, đoàn từ
THÁC KHONE,
LẠI MỘT THỬ THÁCH TRÊN ĐẤT LÀO:
Họ
đă nghe nói tới thác Khone, họ đă từng
tưởng tượng đó như một Niagara thứ
hai, nghĩa là một thác nước duy nhất đổ
trút xuống từ trên cao. Nhưng rồi đó chẳng
phải một Niagara, mà lại là một chuỗi những
ghềnh và thác trải dài gần 14 cây số đan móc vào
với nhau từ bờ bên này
tới bờ kia. Cảnh tượng thật ngoạn
mục với vang ầm tiếng nước đổ
sủi bọt tung tóe trên các ghềnh
đá xa gần khác nhau. Qua chuyến thám sát sơ khởi,
Lagrée nhận định rằng
không thể nào di chuyển theo ḍng chính, các con thác cao
nhất th́ ở bờ phía
tây, chỉ c̣n bờ phía đông là khả dĩ đoàn có thể dùng thuyền
nhỏ di chuyển. Sức mạnh của con nước
có thể thấy rơ
từ chân thác với xác chết của cá và
cả cá sấu từ trên cao bị cuốn đập vào
những khe đá. Họ c̣n phải đương
đầu với cả những hiểm nguy chết
người khác: như cọp dữ và các loại ác
thú, riêng Delaporte cũng đă
suưt chết v́ nạn cát lún, đó là chưa kể nỗi
kinh tởm hầu như hàng ngày của muỗi và
đỉa vắt. Như dự tính, đoàn men theo bờ đông tiến một cách chậm
chạp ngược ḍng nước chảy siết; và
phải mất hơn một ngày trời để
vượt một đoạn đường chỉ có
vài dặm để tới được đảo Khong
ở phía trên con thác. Tại đây đoàn được
tiếp đón nồng hậu, lần đầu tiên
lại được ăn thịt ḅ
tươi sau hơn hai tháng rời
Cho
tới giai đoạn này, ngoài sự quyết tâm, ḷng can
đảm và sức chịu đựng của đoàn thám
hiểm, h́nh như họ vẫn chưa chịu chấp
nhận một sự thật rơ ràng là con sông
Năm
1867: ngày 10 tháng 01, Garnier tách đoàn đi Angkor, trở
lại Nam Vang trong nỗ lực kiếm giấy thông hành
cho đoàn để có thể vào Trung Quốc. Ngày 20 tháng
01, đoàn rời Ubon đi Uthen. Ngày 10 tháng 03, sau 2 tháng
rời đoàn, Garnier đă vượt qua chặng
đường hơn 1500 cây số phần lớn
bằng đường bộ trong những điều
kiện ngặt nghèo. Garnier trở lại
nhập đoàn tại Uthen để cùng đi Vạn
Tượng.
Sau
hơn 9 tháng Delaporte đă ghi chú được mấy
trăm bức kư họa tuyệt đẹp bằng bút ch́
và màu nước, để sau này chuyển vào bản
khắc gỗ như những trang kư sự bằng h́nh
sống động nhất về thành quả hoạt
động của Đoàn Thám Hiểm Sông Mekong vào giữa
thế kỷ 19.
Ngày 02
tháng 04, đoàn tới Vạn Tượng, chứng
kiến dấu vêát tàn phá của người Thái trong quá
khứ trên thủ đô tráng lệ này; nhưng riêng ngôi chùa
Phật Wat Phakeo của hoàng gia vẫn c̣n đó, duy ngọc
xá lợi đă bị lấy mất, có lẽ bị
đưa về Thái Lan. Đoàn thám hiểm Pháp cũng
đă tự ư lấy đi những bộ sách cổ quư giá
trong thư viện chùa Si Sakhet với lư
do biện minh “v́ lợi ích khoa học.” Cuối cùng họ tới thăm
That Luong, ngôi đền nổi tiếng nhất của
Vạn Tượng được dựng lên từ
thế kỷ 16_ là niềm hănh diện và cũng là biểu
tượng của nước Lào; (ngay cả với
người cộng sản Pathet Lào sau này cũng đă in
h́nh That Luong trên đồng bạc mới của họ bên
cạnh hoạt cảnh các chiến sĩ chống máy bay Mỹ trên Cánh
Đồng Chum.)
Ngày 04 tháng 04, đoàn rời Vạn Tượng
trở lại với đường sông từ Pak Lay
đi Luang Prabang. Nhưng hơn 150 cây số dọc theo
con sông là đồi núi trắc trở không có ngả vào,
con sông
thu hẹp lại với những thác ghềnh
chạy giữa những khe núi đá và nếu vào mùa lũ
th́ vô phương di chuyển. Bây giờ đang c̣n là tháng 4
mùa khô, di chuyển cũng đă thật là chậm chạp
và khó khăn, chỉ trông vào sức người kéo. Ṛng ră
suốt 3 ngày họ chỉ mới nhích tới chưa
được 20 cây số với giày dép th́ rách bươm
do bờ sông đầy sỏi đá. Tiếp đến là
khúc bờ
sông cỏ mọc trên bùn lầy với nhung nhúc bầy
đỉa đói nhưng rồi cuối cùng đoàn
cũng tới được Chiang Khan, danh giới phía nam
của Luang Prabang. Đoàn thám hiểm Pháp cũng đang
tiến gần tới vùng ảnh hưởng của
người Anh từ phía Miến Điện, với
nơm nớp nỗi lo ngại sẽ bị người
Anh phỗng tay trên tất cả công lao như những
người đầu tiên khảo sát vùng thượng
nguồn sông Mekong và vùng ảnh hưởng chính trị
của họ. Lagrée trưởng đoàn phải trấn an
các bạn đồng sự là chính họ sẽ làm hơn
đối thủ người Anh bằng cách hoàn tất
cuộc khảo sát con sông Mekong lên tới ngọn nguồn
bên cao nguyên Tây Tạng. Thời gian sau này đă chứng
tỏ lời tuyên bố của Lagrée chỉ là lời
hứa xuông.
Sang đến ngày 23 tháng 04, đoàn lại phải
đối đầu với một khúc ghềnh thác
nữa. Một lần nữa
họ lại phải rỡ đồ xuống khỏi
thuyền để có thể tiếp tục cuộc hành
tŕnh cho dù vô cùng chậm chạp. Nhưng rồi
cuối cùng họ cũng tới được Luang
Prabang, một thị trấn đang phát triển về
thương mại, được bảo hộ bởi
cả Thái Lan và Việt Nam nhưng lại khá xa 2 kinh đô
Bangkok và Huế. Sau 4 tuần lễ
lưu lại thị trấn này mà thời gian như
những ngày hội_ en fête, sinh lực của đoàn
như được hồi phục nhưng đồng
thời con đường trước mặt là
đầy những bất trắc.
CỬA VÀO TRUNG QUỐC:
Từ
ngày rời Sài G̣n, đoàn hầu như bị cô lập
với mọi nguồn tin tức. Những
hướng dẫn mà họ nhận được từ
đô đốc La Grandière đă cũ từ một năm
trước ngày khởi hành. Nghĩa là cũng rất
mù mờ, khiến Lagrée với tư cách trưởng
đoàn chọn thái độ “phản ứng theo hoàn cảnh”. Trước
mặt t́nh cảnh hiện giờ ra sao họ không
được biết. Họ chỉ nghe nói có phong
trào người Hồi giáo nổi loạn dai dẳng
ở tỉnh Vân Nam từ năm 1855; nay nếu đoàn
tiến vào vùng tranh chấp ấy với giấy thông hành từ
triều đ́nh Bắc Kinh cấp th́ quả là điều
thiếu khôn ngoan. Đă thế sức khỏe của Lagrée
ở cái tuổi 43, đă bị suy giảm trầm
trọng qua cuộc hành tŕnh đầy gian khổ, lại
thêm bị các căn bệnh nhiệt đới hành hạ,
khiến đưa tới câu hỏi là liệu Lagrée c̣n
đủ sức lănh đạo đoàn thám hiểm hay
không, bên cạnh một Garnier đầy tham vọng và cá
tính cũng rất khác. Khởi đầu Lagrée muốn
chọn một lộ tŕnh khác nhưng rồi cũng
phải theo ư kiến Garnier là vẫn
tiếp tục cuộc hành tŕnh dọc theo con sông Mekong. Và đoàn đă để ra 2 tuần lễ
chuẩn bị ngày lên đường với số hành
trang thật tối thiểu. Các mẫu đất
đá và tài liệu sưu tập bây lâu vẫn mang theo đoàn th́ nay được đóng thùng
gửi về trước qua ngả Bangkok. Nh́n lại
chuyến đi đă kéo dài gần một năm với
bước tiến triển chậm hơn xa mức
dự trù và số tiền vàng dự trữ đem theo cũng sắp cạn.
Ngày 25
tháng 05, đoàn rời Luang Prabang đi Chiang Kong, Mong Lin, Mong
Yawing, Keng Khang, Keng Hung. Sau hơn 5 tháng gian khổ
tưởng như đến kiệt sức, ngày 18 tháng 10
đoàn thám hiểm qua được biên giới Trung Hoa
vào Tư Mao_ Ssu-mao.
Sau 15 tháng rời Sài G̣n, có lẽ họ là nhóm
người Âu đầu tiên thành công vào “đất
hứa Trung Hoa” qua ngả biên giới này. Cả đoàn cảm thấy nhẹ nhơm cho dù t́nh
h́nh tại địa phương cũng không sáng sủa
ǵ: vụ người Hồi giáo nổi loạn vẫn
c̣n, lại thêm bệnh dịch tả đang hoành hành
khắp tỉnh Vân Nam. Từ đây, Lagrée quyết
định tiếp tục đi Nguyên Giang_ Yuan-Chiang trên
đường tới Côn Minh, thủ phủ củaVân Nam.
Bất ḥa với trưởng đoàn, Garnier th́ lúc nào
cũng nung nấu với ư muốn t́m cho ra cội
nguồn con sông Mekong đồng thời làm sao t́m cho
được một thủy lộ để tới Vân
Nam.
Ngày 16
tháng 11, đoàn tới Nguyên Giang, một thị trấn
nằm bên bờ của một con sông khác. Sau hơn
một giờ vượt lên một con dốc cao, cả
đoàn bất ngờ đứng trước một khung
cảnh hùng vĩ: trong khí hậu rất giống miền
nhiệt đới, cả một ḍng sông lấp lánh
dưới nắng chảy cuộn từ tây bắc
về hướng đông nam mà họ biết rằng
đó là con Sông Hồng chảy vào miền Bắc Việt
Nam. Tại Nguyên Giang đoàn được
tặng quà và tiếp đón nồng hậu.
Sau đó là chặng đường tới Côn Minh. Ngày 26
tháng 11, đoàn xuống thuyền xuôi ḍng tới Pa-Y. Từ
đây đoàn phải chuyển sang đường bộ
đi Kiến Thủy_ Chien-Shui. Từ Kiến Thủy c̣n phải
mất 3 tuần lễ nữa để tới
được Côn Minh. Riêng Garnier được sự
đồng ư của Lagrée, th́ vẫn tiếp tục suôi
ḍng mở cuộc thám sát Sông Hồng. Chưa bao lâu họ
đă phải đi vào một
vùng vách đá cao, rồi tiếp theo là những ghềnh
thác mà theo Garnier th́ vào mùa lũ vô phương có thể
đi qua được bằng thuyền. Như vậy
niềm hy vọng tràn trề ban đầu là không có cơ
sở. Nhưng bây giờ không phải mùa lũ
nên Garnier quyết định tiếp tục xuôi ḍng Sông
Hồng trong khi đám phu tháp tùng hoàn toàn không muốn. Lư do
rất dễ hiểu là ngay sau đó, họ tới gần
khúc sông chảy thật siết trước khi đổ
vào một thác ghềnh vây quanh bởi những vách đá cao
ngất. Garnier hiểu rằng bây giờ chẳng có
tiền bạc hay đe dọa nào có thể bắt đám
phu tùy tùng phải đi tới. Cuộc khảo sát suôi ḍng
Sông Hồng tới đây kể như chấm dứt. Nhưng cũng chỉ rất sớm sau này Garnier
được biết răèng nếu xuống xa hơn
nữa đến Lào Cay th́ từ đây khúc sông Hồng
sẽ là đường thủy thuận tiện
để giao thông đi lại.
Garnier sau
đó quay trở lại Kiến Thủy và vẫn không
ngừng bàn tán về tiềm năng của con Sông
Hồng. Bắt nguồn từ kiêu căng và ḷng yêu
nước quá khích, khi đề cập tới vấn
đề này, Garnier chỉ nghĩ tới quyền lợi
đem về cho nước Pháp và cho rằng “đó
thuần túy là vấn đề của riêng nước
Pháp.” Đến lúc này th́ Lagrée không thể không đồng
ư với người phó trưởng đoàn nên
trước khi chết, trong bản tường tŕnh
cuối cùng gửi về Sài G̣n, Lagrée lại nhắc
tới Sông Hồng trong triển vọng thương
mại từ Bắc Kỳ vào Trung Hoa. Có lẽ chính cả
Lagrée và Garnier đều không biết rằng cùng lúc đó
con buôn Jean Dupuis_ có tên Việt Nam là Đồ Phổ
Nghĩa cũng đang thám sát khả năng lưu thông
của Sông Hồng đi từ
Bắc Việt lên Vân Nam. Vậy ai là
người đầu tiên có “ư tưởng lớn” đó? Sau này th́ chính Jean Dupuis lên tiếng
nhận đó là phần công lao của
ḿnh.
Ngày 23
tháng 12, đoàn tới Côn Minh, đó là thị trấn
lớn nhất mà họ đặt chân đến từ
ngày đoàn rời Sài G̣n. Tại đây
cũng là lần đầu tiên họ được
gặp lại đồng hương là linh mục Potteau
và phái đoàn truyền giáo Pháp. Vẫn theo
Garnier th́ “chinh phục thuộc địa hay truyền
đạo Kitô đều chỉ là những ngả
đường khác nhau dẫn tới sự vinh quang cho
nước Pháp”.
Năm
1868: ngày 08 tháng 01, đoàn rời Côn Minh và cũng biết
rằng họ chỉ cách con sông Dương Tử vĩ đại khoảng hai tuần lễ
đường bộ. Nếu xuôi theo
con sông này đoàn sẽ nhanh chóng đặt chân tới
Thượng Hải ở bờ biển phía đông Trung
Hoa. Chọn lựa hấp dẫn đó có nghĩa là đi
ngược lại mục tiêu ban đầu: thám hiểm
miền viễn tây chưa biết của Châu Á. Sức
khỏe của Lagrée lúc này hoàn toàn suy xụp đến
mức không thể ngồi vơng mà phải cáng đi theo
đoàn; di chuyển chậm chạp trên khung cảnh cao
nguyên trơ trọi đầy gió lạnh. Măi tới
tuần lễ thứ ba, với chặng cuối đi
bằng đường sông, đoàn tới Hội
Trạch_ Hui tse. Tại đây bằng những cố
gắng phi thường, Lagrée vẫn gắng gượng
ngồi dậy để tiếp xúc với giới
chức địa phương với tư cách
trưởng đoàn. Cùng một lúc bị viêm họng,
sốt rét và nhất là bệnh kiết lỵ gây biến
chứng ápxe gan, gần như kiệt sức, Lagrée
phải làm việc với đoàn ngay tại giường
bệnh. Lagrée nghe theo ư kiến Garnier để đoàn
đi Đại Lư Ta-li
tiếp tục cuộc khảo sát lên thượng
nguồn sông Mekong. Và có lẽ đây là tài
liệu cuối cùng mang chữ kư Lagreé với tư cách
trưởng đoàn.
Ngày 30
tháng 01, đành ḷng phải bỏ rơi Lagrée tại
Hội Trạch cùng với bác sĩ Joubert; Garnier dẫn đoàn
lên đường đi Đại Lư.
Riêng
Lagrée cho dù với một cơ thể đang chết
dần ấy vẫn không nguôi khắc khoải về
sự thất bại t́m một thủy lộ trên sông
Chứng kiến giữa cái sống và cái chết
trước mắt của người trưởng
đoàn, Joubert không c̣n chọn lựa nào khác hơn là đem
Lagrée lên bàn mổ trong những điều kiện làm
việc thô sơ nhất về dụng cụ và vô trùng. Vùng gan
ápxe được rạch ra với nửa lít mủ và máu
trộn lẫn, với kết quả tức thời Lagrée
bớt hẳn các cơn đau và mấy hôm sau đă
gượng dậy đi lại được. Nhưng thực ra trong lá gan Lagrée c̣n một ápxe
thứ hai mà Joubert không biết và không đụng dao
tới. V́ vậy mà sang tháng 3, bệnh t́nh Lagrée mau chóng
suy xụp trở lại và kết thúc bằng cái chết
không thể tránh. Khi giảo nghiệm tử
thi, Joubert mới t́m ra ổ ápxe thứ hai bị bỏ sót.
Xác Lagrée được mai táng tạm gần
một ngôi chùa ngoài ṿng thị trấn Hội Trạch.
Măi
tới ngày 2 tháng 4, Garnier mới nhận được tin
Lagrée chết. Khi tới Đại Lư, tuy
được gặp chức sắc Hồi giáo nhưng
họ không tin đoàn đích thực là người Pháp mà
là người Anh. Với Garnier th́ đó
là một sự xúc phạm cùng cực. Tin xấu
tiếp theo là đoàn bị vị sultan_
vua Hồi từ chối tiếp kiến, đồng
thời buộc đoàn phải rời Đại Lư ngày hôm
sau.
Không c̣n
chọn lựa nào khác hơn, Garnier ra lệnh cho đoàn
rời Đại Lư từ sáng tinh sương và phải
măi 11 ngày sau họ mới thực sự thoát ra khỏi vùng
kiểm soát của người Hồi giáo. Trở lại
Hội Trạch, sau cái chết của Lagrée, cuộc thám
hiểm sông
Từ
Hán Khẩu đoàn đi Thượng Hải rồi
xuống tàu về tới Sài G̣n ngày 29 tháng 06 năm 1868
với chiếc quan tài của người trưởng
đoàn sau cuộc hành tŕnh đầy gian khổ kéo dài
hơn 2 năm 24 ngày với kết luận rơ ràng là sông Mekong
không thể nào là thủy lộ giao thương từ Nam
Việt Nam tới Trung Hoa.
Năm
năm sau, Garnier từ Sài G̣n
ra Bắc Kỳ và đích thân chỉ huy cuộc đánh
chiếm Hà Nội ngày 20 tháng 11 năm 1873.
SẮP QUA ĐI THỜI HOANG DĂ:
Thời
gian tuy qua đi hàng trăm năm_ giữa hai chuyến
đi, một của đoàn thám hiểm Pháp vào giữa
thế kỷ 19, và một chuyến đi mới đây
của kư giả Thomas O ùNeill
cuối thế kỷ 20_ xen vào đó là ngót một nửa
thế kỷ chiến tranh và bom đạn, vậy mà con
sông Mekong hầu như vẫn di chuyển với nhịp
độ của thủa xa xưa ấy: qua mùa khô rồi
tới mùa mưa lũ, với con nước lên xuống
và không ngừng đem phù sa tô bồi cho các vùng đất
đai và nuôi sống những người dân sống quanh
đó. Theo suốt chiều dài
4200 cây số của con sông ấy cũng chỉ
mới có một thành phố lớn là thủ đô Nam
Vang, cộng thêm vài con
đập , một cây cầu mới Hữu Nghị
Mittaphap nối thủ đô Vạn Tượng với
thị trấn Nong Khai Thái Lan và bắt đầu có một khu kỹ nghệ Vân Nam
sau con đập Man Wan.
Bây
giờ th́ các cuộc chiến tranh đă tạm qua đi và
“Những Cánh Đồng Chết”vẫn chưa phôi pha trong kư ức người sống,
nhưng rồi người ta cũng phải cố mà quên
đi những đau thương và thù hận để
nghĩ tới hợp tác và phát triển. Đó cũng là
bắt đầu giai đoạn chấm dứt thời
hoang dă của con sông
NGÔ
THẾ VINH
(04/97)
Tham
Khảo:
(1) Louis Delaporte / Francis Garnier. A
Pictorial Journey On The Old
( 3) The
( 4 ) The